Quá Trình Phi Đô La Hóa Đang Diễn Ra Như Thế Nào?

Theo thống kê chưa đầy đủ, bao gồm Brazil, Malaysia, Ghana, Nga, Pháp, Úc và nhiều quốc gia khác, các quốc gia này đang tìm kiếm ‘sự đa dạng hóa’ tiền tệ trong thanh toán thương mại quốc tế.

Theo thống kê chưa đầy đủ, bao gồm Brazil, Malaysia, Ghana, Nga, Pháp, Úc và nhiều quốc gia khác, các quốc gia này đang tìm kiếm ‘sự đa dạng hóa’ tiền tệ trong thanh toán thương mại quốc tế.

Kể từ đầu năm nay, các hành động “phi đô la hóa” thực sự ở nhiều quốc gia đã trở nên mạnh mẽ hơn.

Đi kèm với những hành động này, cuộc thảo luận về “phi đô la hóa” ngày càng trở nên sôi nổi.

Lời của tổng thống Brazil Lula thể hiện nguyện vọng của hầu hết các quốc gia, “Tôi biết rằng, mọi người đã quen với việc sử dụng đồng đô la Mỹ, nhưng chúng ta có thể làm những điều khác biệt trong thế kỷ 21”.

“Phi đô la hóa”, đó là một sự cường điệu, hay sự thật?

Nếu xem kỹ các tin tức chuyên sâu gần đây về “phi đô la hóa” sẽ thấy hành động của họ đều tập trung trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, Bangladesh và Nga đã nhất trí sử dụng Nhân dân tệ để thanh toán cho dự án nhà máy điện hạt nhân của Nga tại nước này.

Vào ngày 1 tháng 4 năm 2023, Ấn Độ tuyên bố rằng thương mại với Malaysia có thể được thanh toán bằng đồng Rupee của Ấn Độ. Một ngày trước đó, Ấn Độ vừa tuyên bố sẵn sàng giao dịch bằng đồng Rupee với nhiều quốc gia hơn, đang thiếu hụt đô la trong dự trữ ngoại hối.

Vào ngày 31 tháng 3, ASEAN đã thông qua kế hoạch giao dịch nội tệ nhằm tăng cường sử dụng đồng nội tệ và giảm sự phụ thuộc vào các đồng tiền quốc tế chủ yếu, chủ yếu là đồng đô la Mỹ, trong thương mại và đầu tư xuyên biên giới.

Chu kỳ của đồng đô la

Bạn phải biết rằng, một trong những biểu hiện quan trọng nhất của quyền bá chủ của đồng đô la là chiếm tỷ lệ thanh toán rất cao, trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Thông qua khả năng ‘tiêu thụ khổng lồ’ của mình, Hoa Kỳ xuất khẩu đô la ra thế giới, sau khi các quốc gia thu được đô la trong thương mại, họ sẽ chuyển sang nắm giữ (mua) các tài sản bằng đô la Mỹ như nợ của chính phủ Hoa Kỳ, để một phần đô la sẽ quay trở lại Cục dự trữ Liên bang (Fed), do đó hoàn thành một chu trình khép kín.

Giờ đây, chính trong mắt xích quan trọng này của thương mại quốc tế đã diễn ra những thay đổi.

Năm 2000, Hoa Kỳ chiếm 12,1% xuất khẩu hàng hóa của thế giới và đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nước đang phát triển và đồng đô la Mỹ là lựa chọn duy nhất.

20 năm sau, xuất khẩu hàng hóa của các nước đang phát triển chiếm 45,9% tổng xuất khẩu toàn cầu, trong khi tỷ trọng của Hoa Kỳ đã giảm xuống còn 8,1%. Trong số đó, các nước BRICS đang đóng vai trò ngày càng quan trọng, trong thương mại quốc tế và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa toàn cầu đã đạt 19,8%.

Sự suy giảm vị thế của Hoa Kỳ trong thương mại quốc tế là kết quả khách quan của sự phát triển cạnh tranh thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, trước sức ép, Mỹ đã bắt đầu thực hiện chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và đẩy mạnh làn sóng “chống toàn cầu hóa”.

Nhưng cách tiếp cận này chỉ có thể làm dịu cơn khát bằng cách uống thuốc độc.

Gần đây, trong số các quốc gia đang ráo riết thúc đẩy “phi đô la hóa”, Pháp đã nhập cuộc.

Cách đây không lâu, Tập đoàn Total Energy của Pháp đã ký một đơn đặt hàng lớn về khí đốt tự nhiên hóa lỏng mà không sử dụng đô la Mỹ cho các giao dịch thanh toán xuyên biên giới (thanh toán quốc tế).

Một trong những động lực đó là “Đạo luật giảm lạm phát” được thông qua tại Hoa Kỳ vào năm ngoái. Dự luật này không chỉ bao gồm các điều khoản bảo hộ, như trợ cấp tài chính khổng lồ trong nước, mà còn sử dụng thị trường Hoa Kỳ như một sự ép buộc, để thúc giục các công ty sản xuất chuyển các đơn vị nghiên cứu phát triển và nhà máy sản xuất của họ ở châu Âu sang Hoa Kỳ.

Nước Pháp đã phản đối rất nhiều về việc này, nhưng hết lần này đến lần khác, Hoa Kỳ đều tỏ ra “lạnh nhạt”:

Sự suy giảm vị thế thương mại quốc tế của Hoa Kỳ có nghĩa là đồng đô la Mỹ không còn cần thiết, việc tiếp tục thúc đẩy chủ nghĩa bảo hộ sẽ chỉ gây tổn hại cho ngoại thương của nước này và đưa các quốc gia đến gần hơn với việc giảm sử dụng đồng đô la Mỹ.

Qua con số có thể thấy, kể từ khi cựu tổng thống Mỹ Donald Trump phát động cuộc chiến thương mại vào năm 2017, tỷ trọng dự trữ USD toàn cầu bắt đầu sụt giảm nhanh chóng:

Tuy nhiên, dựa vào “vị thế thống trị” của mình, Mỹ đã tiến thêm một bước, trực tiếp biến hệ thống tài chính thành “vũ khí”, nhưng lại bất ngờ chọc thủng “lớp giấy cửa sổ cuối cùng” của “đồng đô la bá chủ”.

Cấm Nga sử dụng hệ thống SWIFT

Vào tháng 2 năm 2022, Hoa Kỳ thông báo rằng, họ sẽ cấm một số ngân hàng Nga sử dụng hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT.

Tuy nhiên, dưới đòn của cái gọi là “quả bom hạt nhân tài chính”, nước Nga vốn đã lên kế hoạch “hạ thấp đồng đô la”, hiện tỷ giá hối đoái của đồng Rúp so với đồng đô la đã tăng lên mức trước đó, trước khi chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina diễn ra.

Con át chủ bài đã được sử dụng, nhưng không có “gươm để bịt cổ họng” như tưởng tượng.

Nếu như trước đây, các nước tìm cách “phi đô la hóa” không dám manh động, vì sợ Mỹ trả đũa, thì nay, thế giới đã nhìn rõ ít nhất hai điều:

– Thứ nhất, tài sản bằng đô la Mỹ có thể trở thành quả bom hẹn giờ được Hoa Kỳ sử dụng để tấn công các quốc gia khác bất cứ lúc nào, thứ hai, sự trả đũa của Hoa Kỳ không phải là không thể đối phó. Các quốc gia có thể mở rộng quyền tự chủ của mình và tích cực tìm cách đa dạng hóa phân bổ tài sản, để duy trì an ninh kinh tế của chính họ.

“Lớp giấy cửa sổ cuối cùng” đã bị chọc thủng và “việc khử đô la hóa” đã hội tụ thành tiếng vang toàn cầu.

Ngay cả Nam Mỹ, nơi lâu nay được coi là “sân sau” ảnh hưởng của Mỹ, cũng đề xuất thành lập một đồng tiền chung gọi là “Sur (SUR)” trong năm nay để giảm bớt sự phụ thuộc của Nam Mỹ vào đồng đô la Mỹ.

Ở bên kia bờ Thái Bình Dương, cách đây không lâu, thủ tướng Malaysia Anwar cũng làm sống lại ý tưởng thành lập Quỹ tiền tệ khu vực (Quỹ tiền tệ châu Á). Ý tưởng này, cùng với “hệ thống bảng tiền tệ” của Indonesia, đã bị Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và cổ đông lớn nhất của nó, Hoa Kỳ, ngăn cản mạnh mẽ trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào những năm 1990.

Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của các quốc gia có thị trường mới nổi như hiện nay, như Anwar đã nói, không có lý do gì để tiếp tục dựa vào đồng đô la Mỹ.

Bản chất của tài chính hiện đại là các giao dịch tín dụng, và một trong những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến sự ổn định của thị trường tài chính là niềm tin của thị trường. Các biện pháp khác nhau của Hoa Kỳ trong quá khứ – trừng phạt, kích động hỗn loạn – đã gây ra sự hoảng loạn trên thị trường, và sự hoảng loạn trên thị trường sẽ đẩy nhanh sự mất niềm tin.

Ngày nay, logic này đang trở thành hiện thực.

Là một tài sản bằng đô la Mỹ, trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ là một phương tiện ‘dự báo thời tiết’ để quan sát niềm tin của các quốc gia vào đồng đô la Mỹ.

Theo dữ liệu mới nhất do Bộ tài chính Hoa Kỳ công bố, quy mô trái phiếu Kho bạc Hoa Kỳ do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đã tiếp tục giảm.

Trên thực tế, để phòng ngừa rủi ro trước việc Mỹ tăng lãi suất, hành động bán trái phiếu Mỹ của các ngân hàng trung ương đã bắt đầu, sau khi Fed tăng lãi suất vào năm 2022. Đây cũng là lần đầu tiên trong 2 thập kỷ qua, hơn 50% chủ nợ chính của các khoản nợ của Hoa Kỳ đã cùng nhau giảm tỷ lệ nắm giữ của họ trong chu kỳ tăng lãi suất của Hoa Kỳ.

Các “chủ nợ” ở nước ngoài của Hoa Kỳ lần này đã có biện pháp phòng ngừa, và nguyên nhân nằm ở chính Hoa Kỳ.

Sự chậm trễ kéo dài của cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây là một chú thích.

Khủng hoảng hệ thống ngân hàng ở Mỹ và tác động toàn cầu

Một cuộc khảo sát gần đây của Ngân hàng dự trữ liên bang Dallas cho thấy cuộc khủng hoảng do các ngân hàng ở Thung lũng Silicon gây ra đã làm lung lay niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng, khiến nền kinh tế Mỹ dễ rơi vào suy thoái.

Niềm tin bị lung lay là một tín hiệu nguy hiểm hơn đối với Hoa Kỳ so với sự sụp đổ của chính các ngân hàng.

Và sự ngờ vực như vậy đã bắt đầu phát triển thành thực tế là tín dụng bị khủng hoảng nghiêm trọng và tiêu dùng yếu ở Hoa Kỳ.

Trong 2 tuần sau cuộc khủng hoảng, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Hoa Kỳ đã giảm mạnh gần 105 tỷ đô la, mức giảm lớn nhất kể từ khi cuộc khung hoảng bắt đầu vào năm 1973 và gần như là cuộc khủng hoảng tín dụng tồi tệ nhất trong lịch sử Mỹ.

Bạn biết đấy, hơn 70% tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ cần hỗ trợ tín dụng. Việc thắt chặt tín dụng chắc chắn sẽ khiến nền kinh tế Mỹ rơi vào nguy cơ suy thoái sâu hơn và chắc chắn sẽ tiếp tục làm trầm trọng thêm mối lo ngại của các nhà đầu tư quốc tế về giá trị tài sản bằng đô la Mỹ.

Fed luôn khẳng định rằng hệ thống ngân hàng Mỹ “lành mạnh và kiên cường”.

Sự tương phản này, theo lời của một nhà kinh tế học có uy tín người Mỹ, có nghĩa là thị trường chưa bao giờ “bỏ qua” Fed như vậy.

Bởi vì cách mà Cục dự trữ liên bang (Fed) giải cứu cuộc khủng hoảng ngân hàng là chuyển rủi ro ngắn hạn thành rủi ro dài hạn về sự rối loạn hơn nữa trong hệ thống tài chính Hoa Kỳ.

Sau khi Ngân hàng thung lũng Silicon của Hoa Kỳ bị tiếp quản, đóng cửa và mua lại, Fed đã khởi động “Chương trình ngân hàng tài trợ có kỳ hạn (BTFP)” như một công cụ cứu nguy, điều này bất ngờ gây ra nhiều tranh cãi:

Đầu tiên là “rủi ro đạo đức”. Các biện pháp bảo hiểm chi trả cho những người gửi tiền, vượt quá 250.000 đô la Mỹ, phá vỡ tiêu chuẩn bảo hiểm tiền gửi trước đây với mức bảo hiểm tối đa là 250.000 đô la Mỹ.

Hệ quả là đâu đâu cũng nảy sinh những lo lắng: Liệu tiêu chuẩn có bị phá vỡ, liệu có kích hoạt lời kêu gọi “một cam kết đến cùng”? Đảm bảo đầy đủ sẽ khuyến khích hành vi đầu tư vô trách nhiệm và mù quáng?

Không chỉ vậy, sử dụng công cụ BTFP, tương đương với việc giải quyết nhiều “tổn thất thả nổi” do đầu tư vào trái phiếu như Ngân hàng thung lũng Silicon, vốn can thiệp nghiêm trọng vào cơ chế định giá thị trường của trái phiếu. Mặc dù bề ngoài rủi ro đã dịu bớt, nhưng vẫn còn chỗ cho “sự chênh lệch giá chính sách”.

Nhưng mức độ nghiêm trọng của vấn đề vượt xa điều đó.

Theo một ước tính, các ngân hàng Hoa Kỳ có thể huy động khoảng 4,3 nghìn tỷ đô la thông qua BTFP. Điều này tương đương với một cách khác để Fed mở ra một cửa sổ trị giá 4,3 nghìn tỷ đô la trong nước. Bạn biết đấy, trong khoảng thời gian 3 năm xảy ra dịch bệnh, Fed đã tung ra tổng cộng khoảng 4,8 nghìn tỷ đô la Mỹ.

Bất cứ khi nào có rủi ro xảy ra, Cục dự trữ liên bang luôn chọn cách ‘xả nước’ để giải quyết vấn đề.

Kết quả là chỉ trong 2 tuần sau khi cuộc khủng hoảng ngân hàng bùng nổ, bảng cân đối kế toán của Fed đã tăng thêm 393 tỷ USD, nâng tổng quy mô lên gần mức cao kỷ lục 8,95 nghìn tỷ USD.

Nhưng “in tiền” không có nghĩa là tiền được tạo ra từ không khí. Theo “Đạo luật dự trữ liên bang”, Cục dự trữ liên bang phải phát hành tiền tệ được hỗ trợ bởi tài sản – trong đó quan trọng nhất là trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ.

Tiền tệ hóa các khoản nợ khổng lồ

Điều này cũng khiến ông Tan nhớ đến nhận định của Dalio, nhà sáng lập công ty đầu tư Bridgewater trong Diễn đàn phát triển trung quốc trước đây: Thế giới đang ở “bên bờ vực nguy hiểm”, và việc tiền tệ hóa các khoản nợ khổng lồ là một trong những dấu hiệu của sự suy thoái.

Tại Hoa Kỳ, để Cục dự trữ liên bang (Fed) phát hành một lượng lớn tiền tệ, Bộ tài chính Hoa Kỳ cần phát hành thêm trái phiếu kho bạc, sau đó Cục dự trữ liên bang sẽ mua trái phiếu này, đây là biểu hiện của “tiền tệ hóa khoản nợ”.

Hiện tại, quy mô nợ quốc gia của Hoa Kỳ đã vượt quá 31 nghìn tỷ đô la Mỹ, gần với mức nợ pháp định là 31,4 nghìn tỷ.

Các khoản nợ khổng lồ chắc chắn sẽ đi kèm với các công cụ phái sinh tài chính khổng lồ, khiến cho môi trường kinh tế tổng thể của Hoa Kỳ rất nhạy cảm với những thay đổi về lãi suất cơ bản. Trong năm qua (2022), việc tăng lãi suất khoảng 5% đã đặt ra một thử thách lớn về khả năng chịu đựng của nó.

Lúc này, nếu Fed tiếp tục mua trái phiếu và “in tiền” để che đậy khủng hoảng, chắc chắn sẽ khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.

Trên thực tế, những nghi ngờ về tính chuyên nghiệp trong quá trình ra quyết định của Fed đã nảy sinh kể từ cuộc khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn năm 2008.

Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế (CEPR) đã so sánh dữ liệu biến động của chỉ số S&P 500 trong các cuộc họp báo do Powell và người tiền nhiệm Yellen và Bernanke tổ chức trong năm nay, và nhận thấy rằng sự biến động của thị trường do cuộc họp báo của Powell kích hoạt trực tiếp là 3 lần so với 2 người kia.

Hiện tại, dưới hệ thống tiền tệ và tài chính quốc tế do đồng đô la Mỹ thống trị, cục dự trữ liên bang đóng vai trò của một “ngân hàng trung ương” toàn cầu ở một mức độ nhất định.

Một quyết định như vậy tương đương với việc phung phí tín dụng của hệ thống tài chính của nó, và nó đã làm lung lay nền tảng của hệ thống đồng đô la chưa từng có.

Nếu Hoa Kỳ tiếp tục ‘làm mới giới hạn tín dụng’ trong hệ thống tài chính của mình, thì nước này sẽ chỉ làm giảm thêm vị thế của mình trong thương mại quốc tế, và các vết nứt trong hệ thống lưu thông đồng đô la sẽ bị phá vỡ.

Scroll to Top