Nước Mỹ Đang Đối Mặt Với Cơn Ác Mộng Nợ Nần

Nó không chỉ là sự bế tắc ở Washington Trên bức tường của tòa nhà Manhattan gần quảng trường thời đại – một chiếc máy đếm ghi lại sự gia tăng nợ công của Mỹ – từ 3 nghìn

Nó không chỉ là sự bế tắc ở Washington

Trên bức tường của tòa nhà Manhattan gần quảng trường thời đại – một chiếc máy đếm ghi lại sự gia tăng nợ công của Mỹ – từ 3 nghìn tỷ đô la vào năm 1989, khi nó được lắp đặt, lên hơn 31 nghìn tỷ đô la ngày nay.

Cho rằng nợ quốc gia đã tiếp tục tăng đều đặn trong nhiều năm mà không gây ra bất kỳ hậu quả kinh tế rõ ràng nào, khá dễ dàng để bỏ qua đồng hồ đo này – đặc biệt là bây giờ nó đã được chuyển từ một giao lộ đông đúc sang một con phố yên tĩnh. Tuy nhiên, sự tăng trưởng không ngừng về nợ công của Mỹ bỗng trở thành mối nguy hiểm cho nền kinh tế toàn cầu.

Trần nợ là số tiền mà quốc hội cho phép chính phủ Mỹ vay để đáp ứng các nghĩa vụ cơ bản của mình, từ cung cấp bảo hiểm y tế đến trả lương cho quân đội. Trần nợ hiện tại là 31,4 nghìn tỷ đô la (117% GDP) và nước Mỹ đang nhanh chóng tiến gần đến mức đó. Vào ngày 1 tháng 5, Bộ trưởng tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen đã cảnh báo rằng chính phủ sẽ cạn kiệt dự trữ tiền mặt và không thể tận dụng các biện pháp tài khóa trước ngày 1 tháng 6.

Tại thời điểm này, nước Mỹ hoặc sẽ vỡ nợ hoặc phải cắt giảm mạnh chi tiêu của chính phủ. Cả 2 lựa chọn sẽ tàn phá thị trường thế giới. Một vụ vỡ nợ sẽ làm xói mòn niềm tin vào hệ thống tài chính quan trọng nhất thế giới và việc cắt giảm tài khóa nghiêm trọng sẽ gây ra một cuộc suy thoái sâu sắc.

Ngay cả khi quốc hội thành công trong việc tăng trần nợ – trước khi điều khủng khiếp xảy ra, nợ công của Mỹ là một lời cảnh báo rằng, tình hình tài chính của Mỹ đang xấu đi và việc khôi phục nó sẽ khó khăn như thế nào.

Trần nợ là một sự sáng tạo hoàn toàn mang tính chính trị, không có bất kỳ ý nghĩa về kinh tế. Không có quốc gia nào khác tự trói tay mình theo cách thô lỗ như vậy. Điều này có nghĩa là cần phải có một giải pháp chính trị nào đó, giải pháp này phải được thực hiện nghiêm túc nhất có thể, trong bối cảnh bế tắc hiện tại.

Các nhà đầu tư đã phát ốm vì sự thiếu rõ ràng về việc liệu Đảng dân chủ và Đảng cộng hòa có thể đạt được thỏa thuận hay không. Ngay sau lời cảnh báo của Yellen, lãi suất trái phiếu kho bạc ngắn hạn đáo hạn vào đầu tháng 6 đã tăng 1 điểm phần trăm, cho thấy rằng, rất ít người muốn nắm giữ trái phiếu chính phủ.

Dự luật do chủ tịch hạ viện Kevin McCarthy của Đảng cộng hòa đề xuất sẽ cho phép tăng nhẹ trần nợ quốc gia vào năm 2024, nhưng cắt giảm chi tiêu của chính phủ hàng nghìn tỷ đô la trong thập kỷ tới và chấm dứt các kế hoạch biến đổi khí hậu. Vào ngày 27 tháng 4, dự luật đã được hạ viện do Đảng cộng hòa kiểm soát thông qua, nhưng Đảng dân chủ không muốn ủng hộ, điều đó có nghĩa là nó sẽ không được thượng viện thông qua.

Trong khi đó, một động thái của các đảng viên Đảng dân chủ tại hạ viện – được gọi là “đơn kiến ​​nghị loại bỏ” – có thể mang lại cho họ cơ hội đạt được mức tăng trần nợ quốc gia đơn giản. Nhưng điều đó sẽ yêu cầu 5 đảng viên cộng hòa không đồng ý với McCarthy và đứng về phía đảng dân chủ, điều này khó có thể xảy ra trong cuộc bầu cử sắp tới.

Tuy nhiên, hầu hết đều hy vọng rằng các chính trị gia Mỹ sẽ bằng cách nào đó tìm ra lối thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện tại, như họ đã làm trong quá khứ. Tổng thống Joe Biden đã mời các nhà lãnh đạo của cả 2 đảng dự một cuộc họp tại Nhà Trắng vào ngày 9 tháng 5 – Biden hy vọng sẽ tránh điều này, vì ông muốn thấy một dự luật “sạch sẽ” để tăng trần nợ quốc gia.

Nếu và khi điều đó xảy ra, ngân sách của Mỹ sẽ lại biến mất khỏi tầm nhìn – giống như bộ đếm nợ quốc gia của Mỹ. Tuy nhiên, điều này rất tệ, bởi vì nền tảng của hệ thống tài chính của đất nước ngày càng trở nên lung lay. Để bắt đầu, chỉ số chính về tính dễ bị tổn thương không phải là mức nợ công của Mỹ, mà là thâm hụt ngân sách ngày càng tăng của nước này.

Trong nửa thế kỷ qua, thâm hụt ngân sách liên bang của Mỹ trung bình vào khoảng 3,5% GDP mỗi năm. Trong báo cáo mới nhất cho tháng 2, văn phòng ngân sách quốc hội dự đoán rằng, thâm hụt ngân sách của Hoa Kỳ sẽ ở mức trung bình 6,1% trong thập kỷ tới.

Nhiều khả năng, con số này bị đánh giá thấp. Văn phòng ngân sách quốc hội không tính đến suy thoái kinh tế trong các dự đoán của mình. Ngay cả khi nước Mỹ không sớm chi nhiều tiền như vậy, như đã xảy ra trong đại dịch COVID-19, suy thoái kinh tế sẽ làm tăng thâm hụt khi doanh thu thuế giảm và các biện pháp ổn định tự động như trợ cấp thất nghiệp tăng lên.

Giống như nhiều nhà phân tích, văn phòng ngân sách quốc hội cũng đang cố gắng ước tính chi phí thực hiện chính sách công nghiệp mới của chính quyền Biden. Lúc đầu, người ta ước tính rằng, chi tiêu trợ cấp cho các lĩnh vực như ô tô điện và năng lượng tái tạo sẽ tiêu tốn khoảng 400 tỷ USD trong thập kỷ tới. Nhưng vì nhiều khoản trợ cấp dưới hình thức tín dụng thuế không giới hạn, Goldman Sachs ước tính chi tiêu có thể lên tới 1,2 nghìn tỷ đô la.

Hơn nữa, văn phòng ngân sách quốc hội chỉ đưa ra các dự báo của mình trên cơ sở các luật hiện hành. Khi bối cảnh chính trị thay đổi, luật pháp cũng thay đổi, với xu hướng thâm hụt ngày càng tăng.

Năm 2017, Donald Trump đã thông qua một loạt cắt giảm thuế hết hạn vào năm 2025. Khi đưa ra các dự báo của mình, theo luật, văn phòng phải giả định rằng các biện pháp này sẽ hết hiệu lực khi được dự đoán trước. Tuy nhiên, ít chính trị gia muốn tăng thuế. Ví dụ, Biden đang tìm cách thực hiện kế hoạch xóa khoản vay dành cho sinh viên sẽ chỉ làm thâm hụt thêm trầm trọng.

Nếu ít nhất một số biến số này được tính đến – chi tiêu cao hơn cho chính sách công nghiệp cộng với việc gia hạn cắt giảm thuế của Trump – thì thâm hụt ngân sách sẽ ở mức trung bình 7% trong thập kỷ tới và vào đầu những năm 2030, con số này sẽ lên tới 8%.

Năm này qua năm khác, việc vay mượn nhiều như vậy sẽ góp phần làm tăng nợ công. Vào giữa thế kỷ này, nợ liên bang sẽ tăng gần gấp đôi, lên gần 250% GDP, theo biểu đồ của văn phòng ngân sách quốc hội. Tại một thời điểm nào đó, đồng hồ đo nợ ở New York, hiện đang hiển thị số có 14 chữ số, sẽ cần thêm chữ số thứ 15 khi nợ quốc gia vượt quá một trăm nghìn tỷ đô la.

Thâm hụt ngân sách và nợ công là những vấn đề không thể bỏ qua. Nó nên được coi là những chỉ số tàn khốc – có nguy cơ gây ra nhiều thiệt hại hơn nữa cho nền kinh tế. Đầu tiên, khi nợ quá cao, việc tăng lãi suất – mà chúng ta đã thấy trong suốt năm qua – ngày càng trở nên khó ‘tiêu hóa’.

Lý do chính mà văn phòng ngân sách quốc hội gần đây đã sửa đổi các ước tính thâm hụt cho những năm 2020 là do chi phí tài trợ gia tăng. Vào đầu năm 2022, nó dự đoán rằng lãi suất đối với chứng khoán thời hạn 3 tháng, trung bình là 2% trong 3 năm tới, và bây giờ đã tiệm cận đến con số 3,3%.

Trong 5 thập kỷ qua, chi tiêu lãi suất chưa bằng một nửa chi tiêu quốc phòng, nhưng dự đoán rằng đến năm 2033, chúng sẽ cao hơn 1 phần 3 so với chi tiêu quốc phòng. Tình thế tiến thoái lưỡng nan “súng hay bơ” có nguy cơ trở thành quy tắc cứng nhắc “trái phiếu, không phải súng”.

Trong tương lai, tỷ giá có thể giảm hoặc duy trì ở mức cao trong một thời gian. Nhưng trong thế giới phát triển cao mà nước Mỹ hiện đang sống, thâm hụt lớn có thể dẫn đến bệnh lý. Để tài trợ cho các khoản vay lớn như vậy, chính phủ phải thu hút thêm tiền tiết kiệm từ khu vực tư nhân. Điều này để lại ít vốn hơn cho chi tiêu của các công ty, do đó làm giảm khả năng đầu tư của họ. Với ít vốn mới hơn, người lao động dần dần giảm năng suất và tăng trưởng chậm lại.

Trong khi đó, nhu cầu thu hút tiền tiết kiệm từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước của chính phủ có thể gây áp lực lên lãi suất. Nguy cơ các nhà đầu tư, đặc biệt là người nước ngoài, quyết định chuyển tiền của họ đi nơi khác sẽ làm tăng tính dễ bị tổn thương về tài chính của Mỹ. Đến lượt mình, điều này sẽ hạn chế khả năng nhà nước sử dụng các biện pháp kích thích khi đối mặt với tình trạng suy thoái theo chu kỳ.

Kết quả sẽ là một nền kinh tế nghèo hơn và không bền vững hơn so với trong một vũ trụ song song, nơi sự khan hiếm được kiểm soát. Nói tóm lại, sự phóng túng về tài chính là điều không nên dung thứ.

Làm thế nào có thể tránh được số phận đáng buồn này? Công thức kinh tế khá đơn giản, nhưng chính trị để biến nó thành hiện thực lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Ngay cả trước cú sốc lãi suất, người ta dễ dàng dự đoán rằng, thâm hụt sẽ tăng lên theo thời gian.

Phần chi tiêu lớn nhất của liên bang là chi tiêu bắt buộc cho an sinh xã hội, bảo hiểm y tế và các nhu cầu khác do luật quy định và không liên quan gì đến những thăng trầm của quy trình lập ngân sách hàng năm.

Bây giờ chúng rất lớn và chúng sẽ tiếp tục tăng khi dân số già đi. Đến năm 2033, chi phí hỗ trợ người cao tuổi hàng năm sẽ bằng chi phí cho giáo dục, môi trường, quốc phòng, khoa học và giao thông cộng lại.

Chính phủ ước tính rằng, các quỹ ủy thác giúp tài trợ cho các chương trình chăm sóc sức khỏe và phúc lợi sẽ vỡ nợ vào đầu những năm 2030. Khi đó, Mỹ sẽ phải đưa ra lựa chọn cơ bản giữa việc cắt giảm trợ cấp và tăng thuế.

Một tính toán tương tự áp dụng cho tất cả các khía cạnh khác của ngân sách liên bang: Một số cân bằng giữa cắt giảm chi tiêu và tăng doanh thu là cách duy nhất để ngăn chặn sự gia tăng thảm khốc trong thâm hụt ngân sách liên bang.

Họ biết chắc chắn

Trong quá trình viết bài này, chúng tôi đã phỏng vấn 3 cựu lãnh đạo văn phòng ngân sách quốc hội. Là những nhà kinh tế học đã dành phần lớn cuộc đời mình để phân tích bức tranh tài chính ở Mỹ, họ có cùng tiếng nói về sự nguy hiểm của thâm hụt ngày càng tăng và sự thiếu mong muốn thay đổi bất cứ điều gì.

“Kể từ đầu thế kỷ 21, người Mỹ bình thường liên tục nghe các tổng thống của họ nói rằng chúng ta không có vấn đề gì. Vậy tại sao bây giờ lại phải thực hiện những cải cách khó khăn”? Douglas Holtz-Eakin, người lãnh đạo chính quyền dưới thời George W. Bush, nói.

Theo Doug Elmendorf, thời Barack Obama, các đảng viên cộng hòa đã học được rằng, việc cắt giảm trợ cấp là không có lợi cho họ, trong khi đảng dân chủ đã học được cách tránh tăng thuế. Ông nói: “Cả hai quan điểm này rõ ràng đều được cử tri ưa chuộng, nhưng chúng lại lấy đi một phần lớn ngân sách của ngân sách liên bang”.

Keith Hall, người đã giữ vị trí này vào cuối nhiệm kỳ của Obama và trong phần lớn nhiệm kỳ tổng thống của Trump, tin rằng cần phải có một cuộc khủng hoảng tài chính thực sự thì hành động mới xảy ra. Ông giải thích: “Nhưng sau đó chúng ta sẽ phải thực hiện một số cắt giảm chi tiêu thực sự hà khắc sẽ dẫn đến một cuộc suy thoái nghiêm trọng chỉ vì chúng ta đã kéo dài quá lâu. Các chính trị gia, quốc hội, tổng thống, họ không chấp nhận điều đó”.

Đối với tất cả những lo lắng của họ về triển vọng tài chính, các cựu lãnh đạo văn phòng ngân sách quốc hội đều đồng ý, việc không tăng trần nợ hiện nay – nó sẽ mở đường cho một vụ vỡ nợ – là một ý tưởng tồi tệ.

Nhưng các nhà lãnh đạo Mỹ không có xu hướng nghiêm túc hoặc đồng ý với nhau.

Lên đầu trang