Noam Chomsky: Tại Sao Mọi Thứ Hoa Kỳ Làm Đều Đúng

Bài viết này, là một đoạn trích, trong cuốn sách mới của Noam Chomsky “Hệ thống quyền lực: Trò chuyện về những cuộc nổi dậy dân chủ toàn cầu và những thách thức đối với Đế chế Hoa Kỳ”.

Đô la Mỹ - Sheldon Cooper/SOPA Images/LightRocket qua Getty Images

Bài viết này, là một đoạn trích, trong cuốn sách mới của Noam Chomsky “Hệ thống quyền lực: Trò chuyện về những cuộc nổi dậy dân chủ toàn cầu và những thách thức đối với Đế chế Hoa Kỳ”.

Barsyamyan: Liệu Hoa Kỳ vẫn có quyền kiểm soát chắc chắn đối với các nguồn năng lượng ở Trung Đông?

Noam Chomsky: Các quốc gia sản xuất dầu khí lớn vẫn nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của các chế độ độc tài do phương tây hậu thuẫn. Vì vậy, những thành công của “Mùa xuân Ả Rập”, mặc dù có vẻ hạn chế, nhưng lại rất có ý nghĩa.

Hệ thống các chế độ độc tài do phương tây kiểm soát đang sụp đổ. Trên thực tế, quá trình phân hủy của chúng đã diễn ra trong một thời gian khá dài. Ví dụ, nếu quay trở lại 50 năm trước, chúng ta sẽ thấy, hiện nay các nguồn năng lượng gây ra mối quan tâm chính của các chiến lược gia Mỹ phần lớn đã được quốc hữu hóa. Những nỗ lực liên tục được thực hiện để thay đổi tình trạng này, nhưng chúng vẫn không thành công.

Lấy cuộc xâm lược Iraq của Mỹ làm ví dụ. Rõ ràng đối với tất cả trừ những người có ý thức hệ cứng rắn rằng, chúng tôi xâm lược Iraq không phải vì tình yêu dân chủ mãnh liệt, mà vì quốc gia đó có trữ lượng dầu mỏ lớn thứ 2 hoặc thứ 3 trên thế giới. Ngoài ra, nó nằm ở trung tâm của khu vực sản xuất dầu lớn nhất.

Chủ nghĩa dân tộc Iraq đã giáng một đòn mạnh vào Hoa Kỳ, chủ yếu hoạt động thông qua phản kháng bất bạo động. Hoa Kỳ có thể tiêu diệt các chiến binh, nhưng không thể xử lý nửa triệu người xuống đường. Từng bước, Iraq đã có thể phá bỏ cơ chế quản lý mà các lực lượng chiếm đóng đã thiết lập.

Đến tháng 11 năm 2007, rõ ràng là Mỹ sẽ rất khó đạt được mục tiêu của mình. Và thật thú vị, tại thời điểm đó, một tuyên bố rõ ràng về những mục tiêu này đã được công khai. Vào tháng 11 năm 2007, chính quyền Bush đã đưa ra một tuyên bố chính thức về những thỏa thuận trong tương lai với Iraq sẽ như thế nào.

Có hai yêu cầu chính. Đầu tiên là Mỹ phải có khả năng chiến đấu vô hạn từ các căn cứ quân sự mà Mỹ sẽ giữ lại. Thứ hai, rằng chính phủ Iraq nên “tạo điều kiện thuận lợi cho dòng đầu tư nước ngoài vào Iraq, và đặc biệt là đầu tư của Mỹ”. Vào tháng 1 năm 2008, Bush đã nói rõ điều này trong một trong những tuyên bố chia tay của mình. Vài tháng sau, trước sự kháng cự của Iraq, Hoa Kỳ đã phải từ bỏ những yêu cầu này. Quyền lực đối với Iraq đang tuột khỏi tay Mỹ.

Iraq đang nỗ lực để đòi lại và tái lập bằng vũ lực – giống như hệ thống chính quyền cũ. Nhưng nỗ lực này đã bị từ chối. Đối với tôi, nhìn chung, dường như chính sách của Mỹ vẫn không thay đổi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Tuy nhiên, khả năng thực hiện chính sách này đang bị thu hẹp.

Thu hẹp quy mô do suy yếu kinh tế?

Một phần đơn giản là do thế giới đang trở nên đa dạng hơn. Ngày nay có nhiều trung tâm quyền lực khác nhau trong đó. Vào cuối thế chiến 2, Hoa Kỳ đang ở đỉnh cao tuyệt đối về sức mạnh và quyền lực. Họ sở hữu một nửa tài sản của thế giới, và tất cả các đối thủ của họ đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chiến tranh hoặc bị đánh bại.

Nước Mỹ có nền an ninh ngoài sức tưởng tượng và trên thực tế, đã phát triển các kế hoạch quản lý thế giới. Vào thời điểm đó, nhiệm vụ này không quá viển vông.

Đây có phải là cái mà họ gọi là “kế hoạch lãnh thổ lớn”?

Đúng. Ngay sau thế chiến 2, người đứng đầu bộ phận hoạch định chính sách của Bộ ngoại giao, George Kennan, và những người khác đã vạch ra các chi tiết, và sau đó việc thực hiện kế hoạch bắt đầu. Những gì đang xảy ra hiện nay ở Trung Đông và Bắc Phi, và ở một mức độ nhất định ở Nam Mỹ, trên thực tế, bắt nguồn từ cuối những năm 1940.

Cuộc kháng chiến thành công đầu tiên chống lại quyền bá chủ của Mỹ diễn ra vào năm 1949. Đây là những sự kiện được gọi khá thú vị – “sự mất mát của Trung Quốc”. Đã có nhiều cuộc tranh luận về việc ai chịu trách nhiệm cho sự mất mát của Trung Quốc. Điều này đã trở thành một vấn đề chính trị lớn trong nước.

Nó đã được coi là đương nhiên: Mỹ sở hữu Trung Quốc. Và nếu Trung Quốc tiến tới độc lập, thì chúng ta đã mất Trung Quốc. Sau đó là những lo ngại về “sự mất mát của Mỹ Latinh”, “sự mất mát của Trung Đông”, “sự mất mát” của một số quốc gia riêng lẻ. Và tất cả dựa trên tiền đề rằng thế giới thuộc về chúng ta. Và bất cứ điều gì làm suy yếu khả năng kiểm soát của chúng ta đều là tổn thất đối với chúng ta, và chúng ta phải nghĩ cách bù đắp.

Ngày nay, nếu bạn đọc, chẳng hạn, các tạp chí chính sách đối ngoại nghiêm túc hoặc, nếu bạn cần thêm trò hề, hãy lắng nghe các cuộc tranh luận của Đảng cộng hòa, bạn sẽ nghe họ hỏi, “Làm thế nào chúng ta có thể ngăn chặn những tổn thất tiếp theo”?

Mặt khác, khả năng duy trì kiểm soát đã giảm mạnh. Đến năm 1970, thế giới đã trở thành 3 cực về kinh tế. Có một trung tâm công nghiệp Bắc Mỹ có trụ sở tại Hoa Kỳ; có trung tâm châu Âu với căn cứ tại Đức, có quy mô tương đương Bắc Mỹ, và trung tâm Đông Á với căn cứ tại Nhật Bản – khu vực phát triển năng động nhất thế giới lúc bấy giờ.

Kể từ đó, trật tự kinh tế thế giới trở nên đa dạng hơn nhiều. Do đó, việc thực hiện chính sách của chúng ta trở nên khó khăn hơn, nhưng các nguyên tắc cơ bản của nó không thay đổi nhiều.

Hãy tìm thiểu học thuyết Clinton.

Học thuyết của Clinton cho rằng Hoa Kỳ có quyền đơn phương sử dụng vũ lực để đảm bảo “sự tiếp cận tự do tới các thị trường trọng điểm, nguồn cung cấp năng lượng và tài nguyên chiến lược”. Nó vượt xa mọi điều mà George W. Bush đã nói. Nhưng đó là một học thuyết bình tĩnh, nó không kiêu ngạo và thô lỗ, và do đó không gây ra nhiều phẫn nộ. Niềm tin vào câu “Tôi có quyền” này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Đó cũng là một phần của văn hóa tri thức.

Ngay sau khi tiêu diệt Osama bin Laden, khi tất cả những tiếng reo hò và vỗ tay vang lên, đã có một số bình luận chỉ trích đặt câu hỏi về tính hợp pháp của hành động này.

Nhiều thế kỷ trước, có một thứ gọi là suy đoán vô tội. Nếu bạn giam giữ một nghi phạm, anh ta vẫn là nghi phạm cho đến khi được chứng minh là có tội. Anh ta cần phải được đưa ra xét xử.

Đó là một phần cơ bản của luật pháp Hoa Kỳ. Nó bắt nguồn từ Magna Carta. Vì vậy, có một số ý kiến ​​cho rằng có lẽ chúng ta không nên loại bỏ toàn bộ nền tảng của luật Anh – Mỹ. Điều này gây ra một phản ứng phẫn nộ rất mạnh mẽ, nhưng phản ứng thú vị nhất, như thường lệ, vang lên ở phía tự do bên trái của quang phổ.

Nhà bình luận tự do cánh tả nổi tiếng và được kính trọng Matthew Yglesias đã viết một bài báo chế nhạo những quan điểm như vậy. Ông ấy nói rằng họ “ngây thơ một cách đáng kinh ngạc” và ngu ngốc. Và sau đó ông ta chứng minh yêu cầu của mình.

Iglesias đã viết: “Một trong những chức năng chính của trật tự quốc tế được thiết lập chính xác là hợp pháp hóa việc sử dụng lực lượng quân sự chết người của các cường quốc phương tây”.

Vì vậy, nguyên tắc mà hệ thống quốc tế dựa vào đó Hoa Kỳ có quyền sử dụng vũ lực bất cứ khi nào họ muốn. Nói về việc Hoa Kỳ vi phạm các quy tắc của luật pháp quốc tế là điều hết sức ngây thơ và hoàn toàn ngu ngốc.

Tôi nói điều này đơn giản để minh họa: Trong nền văn hóa trí thức, và thậm chí ở cái gọi là giới tự do cánh tả về chính trị, các nguyên tắc cơ bản không thay đổi nhiều lắm. Tuy nhiên, khả năng thực hiện của họ đã giảm mạnh.

Đó là lý do tại sao người ta nói về sự suy tàn của nước Mỹ. Hãy xem số Foreign Affairs mới nhất năm ngoái, tạp chí hàng đầu của Mỹ. Trên trang bìa, bằng chữ lớn và in đậm, có ghi: “Nước Mỹ đã kết thúc”?

Nếu bạn nghĩ rằng mọi thứ phải thuộc về bạn, và rồi điều gì đó không xảy ra với bạn, bạn mất đi thứ gì đó, thì đó sẽ trở thành một bi kịch và cả thế giới bắt đầu sụp đổ. Vậy cuối cùng của nước Mỹ là gì? Nhiều năm trước chúng ta “mất” Trung Quốc, chúng ta “mất” Đông Nam Á, chúng tôi đã “mất” Nam Mỹ.

Có thể chúng ta sẽ mất các nước ở Trung Đông và Bắc Phi. Nước Mỹ lại kết thúc? Đó là một loại hoang tưởng, nhưng là hoang tưởng của giới siêu giàu và siêu quyền lực. Nếu bạn không sở hữu mọi thứ, đó là một thảm họa.

Thời báo New York mô tả “tình trạng khó khăn chính trị của Mùa xuân Ả Rập bao gồm ủng hộ thay đổi dân chủ, mong muốn ổn định và nỗi sợ hãi của những người Hồi giáo, những người đã trở thành một lực lượng chính trị hùng mạnh”. Thời báo New York xác định 3 mục tiêu của Hoa Kỳ. Bạn nghĩ gì về nó?

Hai thì chính xác hơn. Hoa Kỳ là vì sự ổn định. Nhưng chúng ta phải nhớ ý nghĩa của sự ổn định này. Ổn định có nghĩa là tuân theo mệnh lệnh của Mỹ. Ví dụ, một trong những cáo buộc chống lại Iran, mối đe dọa mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại này, là nước này sẽ gây bất ổn cho Iraq và Afghanistan. Làm sao? Cố gắng lan rộng ảnh hưởng của mình sang các nước láng giềng. Và chúng ta, mặt khác, “ổn định” các quốc gia khi chúng ta xâm lược và tiêu diệt chúng.

Thỉnh thoảng, tôi đưa ra ví dụ minh họa yêu thích của mình về tình trạng này. Đây là những lời của nhà phân tích chính sách đối ngoại tự do nổi tiếng và rất giỏi James Chace, người từng là biên tập viên của tạp chí Foreign Affairs. Nói về việc lật đổ chế độ Salvador Allende và thiết lập chế độ độc tài Pinochet vào năm 1973, ông lưu ý rằng chúng ta phải “gây bất ổn cho Chile vì lợi ích của sự ổn định”.

Điều này không được coi là mâu thuẫn – và thực tế không phải vậy. Chúng ta phải phá hủy hệ thống nghị viện để đạt được sự ổn định.

Mối quan tâm về chính trị Hồi giáo cũng giống như bất kỳ mối quan tâm nào về các sự kiện độc lập.

Có một chút nghịch lý ở đây, bởi vì Hoa Kỳ và Anh theo truyền thống ủng hộ chủ nghĩa cơ bản Hồi giáo cực đoan, chứ không phải Hồi giáo chính trị, bằng tất cả sức lực của họ, bởi vì đó là lực lượng có khả năng chống lại chủ nghĩa dân tộc thế tục, vốn chính là điều gây ra mối lo ngại thực sự.

Ví dụ, Saudi Arabia là quốc gia theo trào lưu chính thống khét tiếng nhất trên thế giới, một quốc gia theo chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Họ có lòng nhiệt thành truyền giáo, truyền bá Hồi giáo cực đoan ở Pakistan, tài trợ cho khủng bố. Nhưng Saudi Arabia là một pháo đài của chính trị Mỹ và Anh.

Họ liên tục ủng hộ Saudis, bảo vệ họ khỏi mối đe dọa của chủ nghĩa dân tộc thế tục ở Ai Cập dưới thời Gamal Abdel Nasser và Iraq dưới thời Abd al-Karim Qasim, cùng nhiều mối nguy hiểm khác. Nhưng họ không thích Hồi giáo chính trị, bởi vì nó có thể trở nên độc lập.

Điểm đầu tiên trong ba điểm, mong muốn dân chủ của chúng ta, là một trong những bài nói của Joseph Stalin về cam kết của Nga đối với lý tưởng tự do, dân chủ và giải phóng thế giới. Khi những tuyên bố như vậy phát ra từ miệng của các chính ủy và giáo sĩ Iran, chúng ta cười nhạo họ. Nhưng khi các nhà lãnh đạo phương tây nói về điều đó, chúng ta gật đầu một cách lịch sự và thậm chí với một sự tôn trọng nhất định.

Nếu bạn nhìn vào sự thật, mong muốn dân chủ của chúng ta sẽ giống như một trò đùa dở khóc dở cười. Điều này được công nhận ngay cả bởi các nhà khoa học hàng đầu, mặc dù họ nói về nó theo cách khác.

Một trong những chuyên gia chính trong cái gọi là thúc đẩy dân chủ là Thomas Carothers, người rất bảo thủ và rất có uy tín. Ông ấy là tân Reagan, nhưng không phải là người theo chủ nghĩa tự do bốc lửa. Carothers đã làm việc cho Reagan tại Bộ ngoại giao và đã viết một số cuốn sách về chủ đề thúc đẩy dân chủ, cuốn sách mà ông ấy rất coi trọng.

Đúng, ông ấy nói, đó là một lý tưởng bắt rễ sâu xa của người Mỹ, nhưng nó có một câu chuyện khôi hài. Mỹ chỉ ủng hộ dân chủ nếu nó phù hợp với những lợi ích kinh tế và chiến lược nhất định. Carothers gọi đó là một bệnh lý kỳ lạ, như thể Mỹ cần điều trị tâm thần. Tất nhiên, có một cách giải thích khác, nhưng nó sẽ không xuất hiện trong đầu bạn nếu bạn là một trí thức có học thức và cư xử tốt.

Vài tháng sau khi bị lật đổ, tổng thống Hosni Mubarak bị bắt, ông bị buộc tội và đối mặt với án tù. Không thể tưởng tượng được rằng các nhà lãnh đạo Mỹ phải chịu trách nhiệm về những tội ác ở Iraq hay bất kỳ nơi nào khác. Liệu tình trạng này có bao giờ thay đổi?

Về cơ bản đó là nguyên tắc của Iglesias: Nền tảng của trật tự quốc tế là Hoa Kỳ có quyền sử dụng bạo lực bất cứ khi nào họ muốn. Tất nhiên họ sẽ không bị buộc tội.

Và không ai khác có quyền như vậy.

Dĩ nhiên là không. Có lẽ chỉ có các vệ tinh của chúng ta. Nếu Israel tấn công Lebanon, giết chết một nghìn người và phá hủy một nửa đất nước, điều đó không sao cả.

Trước khi trở thành tổng thống, Barack Obama là thượng nghị sĩ. Ông ấy đã không làm được gì nhiều với tư cách là một thượng nghị sĩ. Nếu xem trang web của ông ấy trước các cuộc bầu cử sơ bộ, Obama chỉ ra rằng, trong cuộc xâm lược Lebanon năm 2006 của Israel, ông ấy đã đồng bảo trợ cho một nghị quyết của thượng viện yêu cầu Hoa Kỳ không can thiệp vào hành động quân sự của Israel cho đến khi nước này đạt được các mục tiêu của mình.

Mỹ lên án Iran và Syria vì họ ủng hộ cuộc kháng chiến chống lại cuộc tấn công của Israel tàn phá miền nam Liban. Nhân tiện, nó đã bị phá hủy lần thứ 5 sau 25 năm. Vì vậy chư hầu thừa hưởng quyền này.

Nhưng trên thực tế, mọi người đều đúng ở Washington. Đây là ý nghĩa của việc sở hữu thế giới. Nó giống như không khí bạn hít thở. Bạn không thể đặt câu hỏi về nó. Người sáng lập chính của lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại, Hans Morgenthau, là một người rất đàng hoàng, một trong số ít các nhà khoa học chính trị và chuyên gia về các vấn đề quốc tế đã chỉ trích chiến tranh Việt Nam trên cơ sở đạo đức hơn là chiến thuật.

Một người rất hiếm. Ông đã viết cuốn sách “Mục đích của chính trị Mỹ”. Mục tiêu của Mỹ là “siêu việt”: Mang lại tự do và công lý cho phần còn lại của thế giới.

Nhưng ông ấy là một nhà khoa học giỏi, Carothers cũng vậy. Vì vậy, ông đã nghiên cứu sự thật. Hans Morgenthau nói: Khi bạn nghiên cứu sự thật, có vẻ như rằng Hoa Kỳ không sống theo mục đích siêu việt của mình. Nhưng sau đó ông tuyên bố: Chỉ trích mục tiêu siêu việt của chúng ta là “giống như rơi vào dị giáo của chủ nghĩa vô thần, vốn phủ nhận giá trị của tôn giáo trên cùng một cơ sở”.

Đó là một niềm tin tôn giáo có nguồn gốc sâu xa. Nó quá sâu nên rất khó hiểu. Và nếu ai đó bắt đầu bày tỏ sự nghi ngờ, điều này sẽ gây ra trạng thái gần như cuồng loạn, và thường dẫn đến những lời buộc tội chống Mỹ và căm ghét nước Mỹ.

Đây là những khái niệm thú vị không có trong các xã hội dân chủ, chỉ có trong các xã hội toàn trị. Và ở đất nước của chúng ta, nơi họ được coi là điều hiển nhiên. Và nếu ai đó bắt đầu bày tỏ sự nghi ngờ, điều này sẽ gây ra trạng thái gần như cuồng loạn, và thường dẫn đến những lời buộc tội chống Mỹ và căm ghét nước Mỹ.

Scroll to Top