Hiệu Quả Của Các Lệnh Trừng Phạt Chống Lại Nga?

Cuộc khủng hoảng Ukraine đã dẫn đến sự chia rẽ mới giữa phương tây và các nước đang phát triển. Trong khi các cường quốc phát triển đi đầu trong việc áp đặt các biện pháp trừng phạt cứng

Putin. Ảnh: AFP/Vladimir Sindeyev

Cuộc khủng hoảng Ukraine đã dẫn đến sự chia rẽ mới giữa phương tây và các nước đang phát triển. Trong khi các cường quốc phát triển đi đầu trong việc áp đặt các biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Moscow, nhiều quốc gia có thị trường mới nổi bên ngoài châu Âu – không chỉ theo đuổi các chính sách chống lại Nga, mà còn đang cố gắng mở rộng thương mại với Nga, ưu tiên kinh tế hơn địa chính trị.

Trong bối cảnh đó, cơ cấu thương mại của Nga theo quốc gia và khu vực đang thay đổi nhanh chóng. Theo thống kê của hải quan, ngay cả trong năm 2022, khi các lệnh trừng phạt được áp dụng đối với nước này, tổng khối lượng thương mại của Nga đã tăng 8% so với năm trước.

Giá trị xuất khẩu của Nga tăng 20%, trong khi nhập khẩu giảm 12%. Tỷ trọng thương mại của bang với các ‘cường quốc thân thiện’ đã tăng từ 45% vào năm 2021 lên 55% năm 2022.

Bắc Kinh, Delhi và Ankara là 3 ‘người chơi’ hàng đầu thúc đẩy sự chuyển hướng kinh tế của Moscow sang các khu vực thị trường mới nổi. Tổng khối lượng thương mại của các quốc gia này với Nga đã thay đổi: Đối với Trung Quốc, nó đã tăng 1,3 lần so với năm trước, đối với Ấn Độ, nó đã tăng 3,2 lần và đối với Thổ Nhĩ Kỳ, nó đã tăng gần gấp đôi.

Ngoài ra, thương mại của Nga với Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Iran và Indonesia, cũng như với các quốc gia thành viên của Liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU), bao gồm chính Nga, Kazakhstan, Belarus, Armenia và Kyrgyzstan, đã tăng cường. Trong khi đó, tổng giao dịch thương mại bằng đồng đô la của Nga với Liên minh châu Âu (EU) đã giảm 9% vào năm 2022.

Mặc dù giá trị hàng xuất khẩu tăng nhưng khối lượng lại giảm chủ yếu do giá năng lượng cao hơn. Nhập khẩu của Nga từ EU đã giảm gần một nửa. Điều tương tự cũng xảy ra đối với tổng khối lượng thương mại giữa Nga và Nhật Bản: Giá trị xuất khẩu tăng nhẹ nhưng nhập khẩu lại giảm đáng kể. Đối với Washington và Moscow, khối lượng thương mại giữa họ đã giảm xuống dưới một nửa so với năm trước.

Kể từ đầu thế kỷ 21, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã vượt xa đáng kể so với ở châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Đến những năm 2030, tỷ trọng của các thị trường mới nổi trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới dự kiến ​​sẽ vượt quá một nửa.

Vì vậy, có thể nói lệnh trừng phạt đã thúc đẩy Moscow đẩy nhanh việc mở rộng thương mại với các quốc gia có tiềm năng tăng trưởng kinh tế lớn nhất. Cam kết với các khu vực mới nổi sẽ củng cố khả năng phục hồi của Nga trước những hạn chế và củng cố vị thế của nước này trong nền kinh tế toàn cầu.

Các nguồn năng lượng của đất nước, bao gồm dầu mỏ và khí đốt, chiếm hơn 60% xuất khẩu. Vào năm 2022, tổng nguồn cung của các thiết bị mang năng lượng này đã tăng 43% so với năm trước.

Trong đó, lượng dầu xuất khẩu tăng 8% lên 242 triệu tấn, trong khi giá trị tăng 20% ​​và lên tới khoảng 135 tỷ USD. Sự suy giảm xuất khẩu sang châu Âu được bù đắp bằng các chuyến hàng tăng lên đến các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Xuất khẩu từ Nga sang Trung Quốc tăng 8% lên 86 triệu tấn, sang Ấn Độ tăng gấp 9 lần lên 33 triệu tấn và sang Thổ Nhĩ Kỳ tăng gấp đôi, theo các quốc gia nhập khẩu.

Moscow giảm giá đáng kể cho người mua từ 3 quốc gia này. Vào năm 2022, Nga trở thành nhà xuất khẩu dầu lớn nhất cho Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, và vào đầu năm 2023 cho Trung Quốc.

Đây là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi: phía Nga nhận được thu nhập từ việc tăng khối lượng cung cấp, trong khi các nhà nhập khẩu kiềm chế sự gia tăng chi phí năng lượng và kích thích nền kinh tế của họ. Đặc biệt, các nước mua dầu tinh chế giá rẻ của Nga và mở rộng xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ của họ sang các khu vực khác trên thế giới, bao gồm cả EU.

Đầu năm 2023, Indonesia và Ghana cũng bắt đầu nhập khẩu dầu của Nga. Xuất khẩu sang Malaysia tăng. Theo Bộ năng lượng liên bang Nga, tỷ trọng cung cấp dầu mỏ và các sản phẩm dầu mỏ của nước này cho Trung Quốc và Ấn Độ vào năm 2023 lần lượt là 80% và 75%. Ngược lại, xuất khẩu đường ống sang EU tăng 7%, trong khi doanh số bán dầu và các sản phẩm dầu vận chuyển bằng đường biển giảm 25%. Nguồn cung vàng đen cho Nhật Bản giảm 56%.

Đồng thời, điều kiện xuất khẩu đang trở nên khó khăn hơn. Theo Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), các chuyến hàng chở dầu và sản phẩm dầu mỏ trong tháng 3 năm 2023 đạt mức cao nhất kể từ tháng 4 năm 2020, nhưng giá trị xuất khẩu giảm 43% so với năm trước.

EU đã đưa ra lệnh cấm cơ bản đối với việc mua dầu ngoài khơi của Nga từ tháng 12 năm 2022 và các sản phẩm dầu mỏ từ tháng 2 năm 2023. Sự sụt giảm trong xuất khẩu sang EU bao gồm châu Á và các khu vực khác, nhưng doanh thu đang giảm do bán tài nguyên với giá thấp hơn nhiều so với mức giá thị trường.

Sau khi xuất khẩu khí đốt sang EU giảm xuống mức tối thiểu vào tháng 1 – tháng 2 năm 2023, Moscow bắt đầu nỗ lực tăng thêm nguồn cung cho Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ. Đặc biệt, họ tìm cách biến Thổ Nhĩ Kỳ thành trung tâm tái xuất khí đốt từ Nga và các nước khác sang châu Âu.

Do đó, các nguồn năng lượng giá rẻ của Nga đã hỗ trợ Đức và các nền kinh tế châu Âu khác sẽ giúp Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ phát triển trong tương lai.

Các biện pháp trừng phạt chống lại Moscow dẫn đến việc giảm nhập khẩu các sản phẩm từ các nước phát triển vào Nga, đặc biệt là thiết bị, phụ tùng và vật liệu cần thiết cho sản xuất trong nước. Nó giảm mạnh do những khó khăn trong việc vận chuyển ngay cả những hàng hóa không bị hạn chế và việc nhiều công ty châu Âu, Mỹ và Nhật Bản đình chỉ giao dịch thương mại với Nga. Năm 2022, nhập khẩu thiết bị và linh kiện nói chung giảm 15% so với năm trước và nhập khẩu thiết bị điện giảm 19%.

Moscow coi đây là mối đe dọa trung hạn đối với nền kinh tế quốc gia và, như một biện pháp khẩn cấp, đang tăng cường nguồn cung từ Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác.

Theo kết quả của một cuộc khảo sát hồi tháng 1 được thực hiện giữa 1000 doanh nghiệp Nga, 67% bắt đầu mua thiết bị Trung Quốc, 63% – linh kiện Trung Quốc và 52% – bán thành phẩm. Đây là phản ứng đối với việc ngừng nhập khẩu từ các nước phát triển. 21% khác tìm thấy các nguồn thay thế ở các nước EAEU, 17% ở Thổ Nhĩ Kỳ và 12% ở Ấn Độ, Iran, Việt Nam, Ai Cập và Triều Tiên.

Vào tháng 12 năm 2022, Moscow đã yêu cầu Ấn Độ khoảng 500 mặt hàng, bao gồm phụ tùng ô tô và máy bay, thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất dệt may và các sản phẩm kim loại. Ngoài ra, xuất khẩu thiết bị Thổ Nhĩ Kỳ sang Nga năm 2022 cao gấp 2,4 lần so với năm 2021.

Moscow cũng ngày càng mong muốn mở rộng các hiệp định thương mại tự do giữa Nga và các cường quốc mới nổi: Vào tháng 1 năm 2023, dưới sự lãnh đạo của điện Kremlin, một thỏa thuận như vậy đã được ký kết giữa EAEU và Iran, nó sẽ có hiệu lực vào tháng 9 và sẽ loại bỏ thuế quan đối với 90% các vị thế thương mại.

Trong tương lai gần, hiệp định giữa EAEU và Ấn Độ, cũng như giữa EAEU, Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Ai Cập, dự kiến ​​sẽ có hiệu lực. Các cuộc đàm phán với Indonesia đã bắt đầu vào tháng 4. Trung Quốc cũng tuyên bố ý định ký hiệp định.

Có thể nói rằng vị thế của Nga trong nền kinh tế thế giới đang thay đổi – từ Đông Âu sang Bắc Á-Âu. Việc cắt đứt quan hệ với các nước phát triển có tác động đáng kể đến nền kinh tế Nga và việc chuyển hướng thương mại sang các nước thị trường mới nổi là một biện pháp khẩn cấp để giảm thiểu thiệt hại.

Cho đến khi tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng Ukraine, chính sách kinh tế hiệu quả duy nhất của Nga là bù đắp thiệt hại do việc rút khỏi các nước phát triển bằng cách mở rộng quan hệ với các thị trường mới nổi.

Những động thái này của điện Kremlin sẽ có tác động lớn đến xu hướng và cấu trúc của nền kinh tế và thương mại toàn cầu.

Đầu tiên, Nga, với tư cách là một cơ sở xuất khẩu năng lượng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, sẽ tiếp tục thúc đẩy sự trỗi dậy của các cường quốc thị trường mới nổi, bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ.

Thứ 2, việc mở rộng xuất khẩu sang Nga sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển.

Thứ 3, khi đại dịch và cuộc khủng hoảng ở Ukraine đã làm lung lay xu hướng toàn cầu hóa và chia rẽ nền kinh tế thế giới, một khối kinh tế hùng mạnh giữa Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông và các quốc gia khác sẽ trở nên quan trọng.

Tóm lại:

 – Mở rộng thương mại với Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ sau khi áp dụng các biện pháp trừng phạt;

– Nguồn năng lượng rẻ của Nga góp phần vào sự trỗi dậy của các nước đang phát triển;

– Các nước – thị trường mới nổi đang trở thành nhà cung cấp thiết bị và phụ tùng.

Scroll to Top