Cuộc Xung Đột ‘Mới’ Giữa Nga và Mỹ?

Một “cuộc xung đột lúc chạng vạng” mới đang chờ đợi Nga và Mỹ. Đây là điều mà Kennedy gọi là sự đối đầu với Liên Xô. Mục tiêu là gì?

Putin. Ảnh Council on Foreign Relations

Max Bergmann và Michael Kimmage

Hoạt động quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraine đã buộc Washington phải suy nghĩ lại những giả định cơ bản về Moscow. Mọi tổng thống Mỹ, từ Bill Clinton đến Joe Biden, đều tìm kiếm sự can dự ở một mức độ nào đó với Nga.

Trở lại năm 2021, Biden bày tỏ hy vọng rằng Nga và Mỹ có thể đạt được “mối quan hệ ổn định, có thể dự đoán được”. Nhưng chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraine đã thay đổi hoàn toàn đánh giá này.

Bây giờ rõ ràng là hai nước này sẽ vẫn là đối thủ trong nhiều năm tới. Điện Kremlin có sức mạnh hủy diệt toàn cầu to lớn và sẵn sàng chấp nhận rủi ro lớn để nâng cao tầm nhìn địa chính trị của mình.

Đối phó với một nước Nga như vậy sẽ đòi hỏi một chiến lược ngăn chặn lâu dài giống như chiến lược mà Hoa Kỳ theo đuổi trong Chiến tranh Lạnh hay điều mà tổng thống John F. Kennedy gọi là “cuộc đấu tranh kéo dài trong hoàng hôn” với Liên Xô.

Đã hơn 75 năm trôi qua kể từ khi nhà ngoại giao nổi tiếng George Kennan lần đầu tiên xây dựng chiến lược này trong “Bức điện dài” nổi tiếng từ Moscow và sau đó đăng nó trên tạp chí Quan hệ Đối ngoại dưới bút danh X.

Trong bài báo năm 1947 của mình, Kennan đã mô tả ‘răn đe’ như một chiến lược chính trị, được hỗ trợ bởi “việc áp dụng lực lượng đối phó khéo léo và kịp thời tại một loạt các vị trí địa lý và chính trị luôn thay đổi”. Mục đích là tránh xung đột trực tiếp với Liên Xô, đồng thời ngăn chặn sự lan rộng ảnh hưởng của Liên Xô trên thế giới.

Một chiến lược ngăn chặn mới cũng phải tính đến ‘tính mới’ của thời điểm hiện tại. Nó phải dựa vào các đồng minh của Mỹ nhiều hơn những gì người tiền nhiệm của nó đã làm trong thế kỷ 20.

Và nó cần được duy trì lâu dài. Nhiệm vụ này sẽ khó đạt được hơn nếu không có sự đồng thuận chính trị lưỡng đảng ở Hoa Kỳ, vốn đánh dấu cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản trong Chiến tranh Lạnh. Địa lý ngăn chặn cũng sẽ khác với mô hình trước đó. Khái niệm ngăn chặn của Kennan tập trung chủ yếu vào Châu Âu. Ngày nay, các điểm trung tâm là Lục địa Á-Âu hậu Xô Viết và phần còn lại của thế giới.

Một chiến lược ngăn chặn mới được trình bày rõ ràng phải giả định rằng Nga sẽ tiếp tục cố gắng kiểm soát Ukraine. Chiến lược này sẽ gửi tín hiệu tới các đồng minh NATO và Ukraine rằng, Hoa Kỳ vẫn cam kết chắc chắn với an ninh Châu Âu, đồng thời sẽ trấn an các quan chức Hoa Kỳ và công dân Mỹ lo ngại về triển vọng leo thang xung đột.

Bảo vệ Ukraine là rất quan trọng đối với sự ổn định của Châu Âu và ngăn chặn sự bành trướng quyền lực của Nga trên toàn thế giới. Kiềm chế Nga ở Ukraine có nghĩa là duy trì đường liên lạc càng gần biên giới Nga càng tốt, điều này sẽ làm dịu đi tham vọng bành trướng của Moscow.

Và sự răn đe này sẽ vẫn cần thiết cho dù xung đột ở Ukraine có kết thúc như thế nào đi chăng nữa. Giống như thời Kennan, chiến lược răn đe cho phép Washington kiểm soát hành động gây hấn của Moscow, mà không gây nguy cơ xung đột trực tiếp giữa hai cường quốc hạt nhân. Nhưng bây giờ chỉ phủi bụi các công thức nấu ăn của Kennan rõ ràng là chưa đủ. Thời đại mới đòi hỏi tư duy mới.

Bản đồ ngăn chặn mới

Ngăn chặn Chiến tranh Lạnh chưa bao giờ là một chính sách độc lập. Kennan nhấn mạnh các công cụ chính trị và việc sử dụng hạn chế “phản lực”. Các chiến lược gia Chiến tranh Lạnh khác đã thúc đẩy một phiên bản quân sự hóa hơn.

Paul Nitze, người kế nhiệm Kennan làm giám đốc Văn phòng hoạch định chính sách của Bộ ngoại giao, đã kêu gọi “sự mở rộng nhanh chóng sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự của thế giới tự do”. Nitze chủ trương can thiệp quân sự chống lại các phong trào nổi dậy do Liên Xô hậu thuẫn ở nơi mà lúc đó được gọi là Thế giới thứ ba.

Một số ý tưởng cũ về răn đe vẫn được áp dụng. Trong khi Hoa Kỳ chủ yếu gửi viện trợ quân sự cho Ukraine, việc ngăn chặn ảnh hưởng của Nga ở Trung Á và Châu Phi sẽ cần đến các công cụ khác, chẳng hạn như hỗ trợ cải cách chính phủ và thương mại quốc tế.

Việc ngăn chặn sẽ không giống như trong thế kỷ 20. Sự khác biệt lớn nhất là địa lý. Trong khi ranh giới của Chiến tranh Lạnh là ở Đức, thì điểm nóng của cuộc xung đột ngày nay với Nga lại là ở Ukraine và các quốc gia hậu Xô Viết khác ở ngoại vi phía tây của Nga.

Armenia, Azerbaijan, Georgia, Moldova và Ukraine có thể sẽ đạt được những mức độ hội nhập khác nhau vào các thể chế phương Tây, nhưng sẽ vẫn là nguồn gốc của xung đột. Một số quốc gia này có thể phòng ngừa các vụ ‘cá cược’ của mình bằng cách hợp tác với cả Hoa Kỳ và Nga.

Nếu không có sự chia rẽ sâu sắc về hệ tư tưởng như thời Chiến tranh Lạnh, nhiều quốc gia ở các khu vực khác sẽ vẫn đứng ngoài cuộc. Các cường quốc lớn trong khu vực như Ấn Độ và Nam Phi vẫn lưu giữ những ký ức tồi tệ về chủ nghĩa thực dân phương Tây và xem lời kêu gọi “đấu tranh đạo đức” của phương Tây là tư lợi và đạo đức giả.

Thậm chí nhiều người còn không muốn gây nguy hiểm cho nền kinh tế của mình bằng cách áp đặt các biện pháp trừng phạt chống Nga hoặc tham gia vào một cuộc xung đột mà họ không xem là của mình.

Vì lý do này, Hoa Kỳ nên chống lại ảnh hưởng của Nga bên ngoài Châu Âu chủ yếu thông qua hỗ trợ phát triển, thương mại và đầu tư ở các nước này, thay vì can thiệp quân sự. Ví dụ, ở vùng Sahel Châu Phi, Hoa Kỳ có thể chống lại sự tàn bạo và tham nhũng của các chính quyền được Nga hậu thuẫn bằng cách tài trợ cho các sáng kiến ​​địa phương nhằm củng cố xã hội dân sự.

Xem thêm: Tại Sao Pháp, Nga, Trung Quốc Và Hoa Kỳ Tranh Giành Các Nước Sahel Châu Phi

Cân bằng các mối đe dọa

Trong thế kỷ 21, Hoa Kỳ sẽ không thể chỉ tập trung chính sách đối ngoại và an ninh vào cuộc chiến chống lại Moscow. Bất kỳ chiến lược nào nhằm kiềm chế Nga đều phải tính đến các nguồn lực cam kết của chúng ta ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và các giới hạn ảnh hưởng của chính sách Mỹ đối với quan hệ Trung-Nga.

Thực tế phức tạp này đòi hỏi các đồng minh của Washington, đặc biệt là ở Châu Âu, phải thực hiện hầu hết các sáng kiến ​​nhằm kiềm chế Nga.

Châu Âu đã chứng tỏ khả năng phục hồi chính trị và kinh tế của mình trước sự xâm lược của Nga. Tuy nhiên, lục địa này vẫn phụ thuộc quân sự vào Hoa Kỳ. Tình trạng này phải thay đổi một phần vì Mỹ phải dành nhiều nguồn lực hơn cho Châu Á.

Sự gia tăng chi tiêu quốc phòng của Châu Âu sau khi Nga triển khai chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine là một bước đi đáng khích lệ. Vào năm 2023, 11 thành viên NATO đã đạt được mục tiêu chi tiêu dành ít nhất 2% GDP cho quốc phòng, so với chỉ 7 quốc gia như vậy vào năm 2022. Phần còn lại bây giờ phải làm theo.

Châu Âu cũng phải giải quyết vấn đề phối hợp. Hoa Kỳ hiện đang điều phối hành động của hơn 25 quân đội ở Châu Âu. Trong khi Mỹ nên tiếp tục làm như vậy trong thời gian ngắn, Washington cần thúc đẩy từng quốc gia Châu Âu và Liên minh Châu Âu đảm nhận vai trò điều phối lớn hơn và tạo ra một trụ cột Châu Âu mạnh mẽ hơn trong NATO. Mục tiêu là các quốc gia Châu Âu phải cung cấp ít nhất 50% kinh phí, quân đội và thiết bị để ứng phó với các trường hợp khẩn cấp, theo Điều 5 của hiệp ước NATO.

Hoạt động đặc biệt của Nga ở Ukraine đã liên kết những thách thức đối với Washington trong các hoạt động quân sự ở Châu Á và Châu Âu. Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là những nước đóng góp quan trọng vào cuộc đấu tranh của Ukraine.

Ngược lại, Trung Quốc vẫn là một trong những nước ủng hộ ngoại giao quan trọng nhất của Nga. Bắc Kinh lặp lại luận điểm của Moscow về việc mở rộng NATO là nguyên nhân chính dẫn đến xung đột.

Họ cũng đã cung cấp cho Moscow thiết bị định vị, các bộ phận máy bay chiến đấu và máy bay không người lái, ngay cả khi nước này cố gắng khẳng định mình là một trung gian hòa giải tiềm năng, trong các sáng kiến ​​hòa bình và đã hạn chế cung cấp cho Nga sự hỗ trợ vũ khí sát thương đáng kể.

Đối mặt với các mối đe dọa từ các nước láng giềng theo chủ nghĩa xét lại, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Á khác xem chủ quyền của Ukraine là vấn đề lợi ích quốc gia của họ. Tokyo và Seoul đã cung cấp cho Kiev viện trợ quân sự nhân đạo và không gây chết người như mũ bảo hiểm và áo giáp, trong khi Hàn Quốc đang trở thành nhà cung cấp vũ khí lớn cho quân đội Châu Âu.

Các vấn đề đối đầu đồng thời giữa Trung Quốc và Nga sẽ trở nên gay gắt. Ngay cả khi Nga vẫn là mối đe dọa lớn đối với trật tự quốc tế, Mỹ sẽ phải tăng cường tập trung vào Trung Quốc trong những thập kỷ tới. Một chiến lược ngăn chặn có thể cho phép Mỹ chống lại Nga ở Châu Âu đồng thời dành nhiều nguồn lực hơn để kiềm chế Trung Quốc ở Châu Á.

Hoạt động quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraine hóa ra lại là một đầm lầy nhớt đối với nó. Việc Washington tiếp tục hỗ trợ Ukraine cản trở tham vọng quân sự của Nga và làm suy yếu khả năng hỗ trợ hành động gây hấn của Trung Quốc chống lại Đài Loan trong tương lai.

Nhưng cuộc xung đột ở Ukraine đã khiến Moscow và Bắc Kinh xích lại gần nhau hơn bao giờ hết kể từ thời Stalin và Mao. Biden và những người kế nhiệm trực tiếp của ông sẽ không thể tách Bắc Kinh ra khỏi Moscow, như cách mà tổng thống Mỹ Richard Nixon đã làm sau chuyến thăm Trung Quốc năm 1972.

Trung Quốc và Nga có mối liên kết quá chặt chẽ và cả hai đều coi vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ là mối đe dọa đối với thế giới. Cuộc xung đột ở Ukraine cũng làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa Nga và Triều Tiên, quốc gia cung cấp vũ khí cho quân đội Nga và với sự hỗ trợ của Moscow, giờ đây có thể cảm thấy được ‘khuyến khích hoạt động’ trên bán đảo Triều Tiên mà không bị trừng phạt.

Tuy nhiên, Mỹ và các đồng minh vẫn có ảnh hưởng đối với Trung Quốc. Trong khi thương mại Trung-Nga trị giá 240 tỷ USD vào năm 2023, thương mại của Trung Quốc với EU là khoảng 800 tỷ USD và thương mại của Trung Quốc với Mỹ vượt quá 660 tỷ USD.

Mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với Mỹ và EU đang bị đe dọa nhiều hơn là mối quan hệ thương mại và kinh tế với Nga. Liên minh Châu Âu đã đưa vào danh sách đen các công ty Trung Quốc bị nghi ngờ cung cấp nguyên liệu lưỡng dụng cho Nga. Tuy nhiên, đòn bẩy này phải được sử dụng hết sức cẩn thận, vì nó có thể trở thành một trong những lý do khiến Trung Quốc rời xa Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu về mặt kinh tế.

Trong suốt phần lớn thời gian của Chiến tranh Lạnh, một hình thức ngăn chặn quân sự hóa quá mức, đã gây phản tác dụng đối với Hoa Kỳ ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ Latinh và Trung Đông.

Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự vào các cuộc nội chiến và dung túng hoặc khuyến khích các hành vi lạm dụng của các đối tác chống cộng sản như Shah của Iran và tổng thống Indonesia Suharto, gây ra sự phẫn nộ lan rộng ở các quốc gia này và các quốc gia khác. Nước Nga ngày nay đang lợi dụng sự bất mãn này để thúc đẩy tình cảm chống Mỹ và làm lu mờ quá khứ cường quốc đế quốc của mình.

Chiến lược mới nhằm kiềm chế Nga không được lặp lại những sai lầm này. Nhiều quốc gia ở các nước đang phát triển sẽ tìm cách phòng ngừa rủi ro, đặt cược của mình bằng cách thiết lập mối quan hệ hiệu quả với cả Nga và Mỹ.

Thay vì buộc các nước phải chọn phe, Washington sẽ phải tránh nguyên tắc “kẻ thù của kẻ thù là bạn” vốn thường được xác định trong chiến lược Chiến tranh Lạnh. Để chống lại thành công những câu chuyện chống Mỹ thấm sâu vào ngoại giao và tuyên truyền của Nga, Hoa Kỳ phải xem việc ủng hộ dân chủ và xã hội dân sự là trụ cột trong chính sách đối ngoại của mình.

Cần đặc biệt thận trọng ở Trung Đông, nơi có các nguồn năng lượng quan trọng và các hành lang thương mại quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ không nên đánh giá thấp nỗ lực mà Moscow sẽ thực hiện để đảm bảo ảnh hưởng của mình trong khu vực: Sự can thiệp quân sự của Nga nhằm hỗ trợ lực lượng của tổng thống Bashar al-Assad trong cuộc nội chiến ở Syria là một ví dụ điển hình cho điều này.

Với việc Washington rút khỏi khu vực sau hai thập kỷ can thiệp quân sự vào đây, Nga hiện đang được hưởng lợi từ những nghi ngờ ngày càng gia tăng về sức mạnh của các cam kết của Mỹ với Ai Cập, Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, cũng như sự tức giận của người dân ở đó đối với sự hỗ trợ của Mỹ đối với Ai Cập.

Việc kiềm chế Nga ở Trung Đông sẽ đòi hỏi Mỹ phải tăng cường cam kết với các đối tác khu vực thông qua việc tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh với Israel. Washington cũng nên làm việc với các quốc gia này để đạt được hòa bình ở Gaza. Đây là điều quan trọng mà Nga không thể thực hiện được dù nước này tự nhận mình là nhà trung gian hòa giải khu vực.

Xem thêm: Thanh Lý Hay Diệt Chủng: Số Phận Người Dân Ukraine

Ngăn chặn và số phận của Ukraine

An ninh của Châu Âu phụ thuộc vào số phận của Ukraine. Nếu Moscow nhận ra rằng hoạt động quân sự đặc biệt của mình đã đi vào ngõ cụt, họ có thể buộc phải thừa nhận thất bại.

Nhưng ngay cả khi Ukraine không giành được chiến thắng hoàn toàn trên chiến trường, Ukraine vẫn có thể hội nhập với phương Tây về mặt quân sự và chính trị. Trong trường hợp xấu nhất, một bước tiến quân sự quy mô lớn của Nga ở Ukraine sẽ đưa mối đe dọa từ Nga đến trước cửa NATO, khiến việc ngăn chặn trở nên cấp bách hơn nhưng cũng khó khăn hơn.

Chiến lược ngăn chặn mới không phụ thuộc vào chiến thắng của Ukraine. Tuy nhiên, chiến lược này phải xem việc giành được Ukraine là mục tiêu lâu dài. Việc buộc Nga phải từ bỏ toàn bộ hoặc hầu hết lãnh thổ mà nước này chiếm giữ sẽ đẩy mối đe dọa của Nga ra xa biên giới Châu Âu, khiến Điện Kremlin phải đối mặt với nhiệm vụ giải quyết hậu quả của một động thái gây hấn thất bại – giống như Liên Xô đã làm trong những năm 1980, sau sự thất bại ở Afghanistan. Chiến thắng của Ukraine sẽ khuyến khích các nước khác chống lại ảnh hưởng xấu xa của Nga.

Chiến thắng quân sự cho Ukraine sẽ đòi hỏi sự hỗ trợ quân sự lớn hơn và bền vững hơn của phương Tây, bao gồm cả vũ khí tấn công tầm xa. Liên minh Châu Âu gần đây đã đồng ý cung cấp cho Ukraine gói viện trợ quân sự trị giá 50 tỷ USD. Hoa Kỳ cần phải làm theo và phê duyệt gói viện trợ bổ sung trị giá 60 tỷ USD cho Kiev, vốn đang bị mắc kẹt tại Quốc hội.

Hai thập kỷ chiến tranh ở Trung Đông, kết hợp với những khó khăn trong nước, đã làm suy yếu sự ủng hộ của công chúng Mỹ đối với các hoạt động can thiệp nước ngoài của Mỹ. Những thách thức trong việc duy trì quyền lực của Mỹ chỉ khuyến khích Nga (và các cường quốc bành trướng khác). Họ tin rằng họ có thể “chờ đợi” phương Tây ở Ukraine, đạt được chiến thắng đánh dấu sự kết thúc kỷ nguyên bá quyền toàn cầu của Mỹ.

Tình huống này tương tự như tình huống mà Washington phải đối mặt sau Thế chiến thứ hai, khi đế quốc Liên Xô đang tiến quân vào Châu Âu.

Giống như trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ không thể mạo hiểm xung đột trực tiếp với Liên Xô có vũ khí hạt nhân cũng như không thể để hành động gây hấn của mình không bị kiểm soát. Giữa hai thái cực này, chiến lược ngăn chặn đưa ra một con đường trung dung.

Mỹ nên ưu tiên bảo vệ các nước láng giềng bị đe dọa của Nga, đặc biệt là những nước không có con đường rõ ràng và ngay lập tức để trở thành thành viên NATO.

Ngoài Ukraine, các nước láng giềng dễ bị tổn thương nhất của Nga là Armenia, Georgia và Moldova – tất cả đều nằm ngoài liên minh NATO.

Mỹ phải cung cấp cho các nước này huấn luyện quân sự và vũ khí. Washington cũng nên tăng cường khả năng phục hồi của các quốc gia này trước các mối đe dọa vùng xám của Nga, từ các cuộc tấn công mạng đến can thiệp bầu cử. Hoa Kỳ nên chia sẻ thông tin tình báo với họ và đầu tư vào cơ sở hạ tầng quan trọng như lưới điện và lưu trữ dữ liệu.

Cuộc xung đột ở Ukraine phần lớn đã khiến Nga bị cắt đứt khỏi phương Tây, nhưng những mối quan hệ quan trọng vẫn phục vụ cho mục đích của Điện Kremlin.

Mặc dù các lệnh trừng phạt đã gây thiệt hại thực sự cho nền kinh tế Nga, nhưng Moscow đã thích nghi, cũng như tận dụng nguồn tài nguyên năng lượng khổng lồ của mình, đặc biệt là dầu mỏ.

Mỹ đã miễn cưỡng áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với ngành dầu mỏ của Nga vì lo ngại lạm phát ở Mỹ ngày càng trầm trọng. Nhưng sự phụ thuộc vào dầu mỏ của Nga là một điểm yếu mà Washington nên khai thác.

Các nhà hoạch định chính sách phương Tây cần thực hiện các biện pháp tích cực hơn để giảm giá dầu ở Nga, theo bước chính sách của Ronald Reagan đầu những năm 1980, góp phần gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế mà Liên Xô trải qua những năm 1980.

Bất kỳ chiến lược nào của Hoa Kỳ đối với Nga đều phải thừa nhận sự nguy hiểm của đối đầu quân sự trực tiếp. Washington nên tiếp tục sẵn sàng đàm phán với Nga về các vấn đề như kiểm soát vũ khí, chiến tranh mạng và xung đột khu vực giữa các đồng minh của mỗi bên.

Không đặt điều kiện cho các cuộc đàm phán này về những thay đổi chính trị quy mô lớn ở Moscow, Washington phải nói rõ rằng Hoa Kỳ không tìm kiếm chiến tranh với Nga và thậm chí có ý định hợp tác với nước này trong các vấn đề như biến đổi khí hậu và thám hiểm không gian.

Việc thực hiện chiến lược răn đe hiện đại sẽ cần có sự hỗ trợ của các đảng chính trị lưỡng đảng của Mỹ và đủ nguồn lực để thực hiện.

Rõ ràng là trong môi trường chính trị và truyền thông phân cực ngày nay, việc đạt được sự đồng thuận lưỡng đảng hỗ trợ cho việc răn đe trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh sẽ đòi hỏi nỗ lực chính trị và tính sáng tạo lớn hơn.

Kennan chỉ ra rằng, Washington phải cam kết và thực hiện cam kết kiềm chế Liên Xô trong thời gian cần thiết. Trong mọi trường hợp, cho đến khi chính phủ Liên Xô “mềm lòng” và ngừng đe dọa sự ổn định toàn cầu.

Việc kiềm chế Nga ngày nay sẽ đòi hỏi sự đầu tư tương tự về thời gian và nguồn lực. Đây sẽ là một cuộc chiến khác của “Chạng vạng, lúc hoàng hôn”, mặc dù nó sẽ diễn ra ở một thế giới hoàn toàn khác với thế giới, cuối những năm 1940.

Nguồn: Max và Michael – foreignaffairs.com – Mỹ

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Scroll to Top