20 Năm Sau Chiến Tranh Iraq

Nỗi kinh hoàng của chiến tranh, di sản lâu dài của nó, sinh mạng và di sản đã mất – nó thật sự đã ám ảnh Iraq hơn 2 thập kỷ sau cuộc xâm lược của Hoa Kỳ. “Một

Nỗi kinh hoàng của chiến tranh, di sản lâu dài của nó, sinh mạng và di sản đã mất – nó thật sự đã ám ảnh Iraq hơn 2 thập kỷ sau cuộc xâm lược của Hoa Kỳ.

“Một trong những ký ức đầu tiên của tôi, là, khoảng một tuần trước cuộc xâm lược”, Meethak al-Khatib, một nhà báo và nhà làm phim người Iraq, nói với Al Jazeera. “Tôi vào phòng khách của chúng tôi. Chú tôi đã đến. Ông ấy đang dán băng keo lên tất cả các cửa sổ. Tôi hỏi, tại sao chú lại làm điều đó. Ông nói, như vậy kính sẽ không biến thành mảnh đạn. Trong khi chú đang dán, trên TV, đó là lần cuối cùng, tôi nhìn thấy Saddam với tư cách là tổng thống”.

Vào ngày 19 tháng 3 năm 2003, một liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo bắt đầu ném bom Iraq. Một ngày sau, một cuộc xâm lược mặt đất bắt đầu. Al-Khatib khi đó mới 7 tuổi.

Vào thời điểm đó, al-Khatib và gia đình sống ở Ramadi, cách thủ đô Baghdad 110 km về phía tây. Họ rời nhà trong thời gian đầu của cuộc xâm lược, vì không thể đáp ứng nhu cầu cơ bản ở Heet – một thành phố ở tỉnh Al-Anbar, vì vậy họ quay trở lại Ramadi và phát hiện ra rằng, quân đội Mỹ đã thiết lập một căn cứ bên cạnh căn nhà của họ.

Meethak al-Khatib mới 7 tuổi khi Mỹ xâm lược Iraq. Ảnh: Meethak al-Khatib/Al Jazeera qua aljazeera.

Al-Khatib nói: “Căn cứ quân sự Hoa Kỳ gần khu phố là một vấn đề lớn. Chúng tôi luôn lo sợ về các cuộc tấn công từ họ. Tôi có thể nhớ rằng, một cuộc tấn công hoặc xáo trộn sẽ xảy ra ít nhất 1 lần 1 tuần đối với căn cứ này”.

Sau các cuộc tấn công của al-Qaeda vào Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, các lực lượng Hoa Kỳ đã xâm chiếm Afghanistan với ‘mục đích’ phá hủy mạng lưới của nhóm khủng bố và hạ bệ thủ lĩnh Osama bin Laden.

Sau đó, Mỹ cáo buộc, nhà lãnh đạo Iraq, Saddam Hussein sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt làm cái cớ biện minh cho cuộc xâm lược Iraq. Đó là sự tiếp nối của “cuộc chiến chống khủng bố” của Mỹ.

Nhà độc tài Iraq đã bị lật đổ, nhưng không có vũ khí hủy diệt hàng loạt nào được tìm thấy.

Thay vì nền dân chủ như đã hứa, cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ và sự tàn phá của nó đã để lại “nhiều vết sẹo” Iraq – về con người và nền văn hóa của đất nước này.

Ngày 19 tháng 3 năm 2023: Một người cha từ Baghdad đang chạy trốn khỏi Iraq tại trạm kiểm soát Qoshtapa gần Erbil cùng với vợ đang mang thai và con gái. Chiến tranh sắp xảy ra đã tạo ra một dòng người tị nạn đến miền Bắc Iraq. Ảnh Patrick Barth/Getty Images qua aljazeera.

Gia đình của Al-Khatib đã phải di dời kể từ năm 2014 sau sự xuất hiện của ISIS và việc chúng tiếp quản những vùng đất rộng lớn của Iraq và Syria, bao gồm cả Ramadi.

“Trong cuộc chiến của IS, chúng tôi đã mất nhà”, al-Khatib nói. “Và tôi tiếp tục liên kết nó với cuộc chiến năm 2003. Tất cả mọi thứ đang xảy ra trong cuộc sống của chúng tôi – di dời, không có cuộc sống ổn định. Chúng tôi muốn có cuộc sống gia đình bình thường”.

Ngày 20 tháng 3 năm 2003: Firyal Ashoor giặt quần áo trước căn lều mà cô và gia đình 10 thành viên sống, sau khi họ bị đuổi ra khỏi nhà vì không đủ tiền thuê – khi Baghdad sụp đổ 20 tháng 3 năm 2005 tại quận Karradh của Baghdad, Iraq. 2 năm sau cuộc xâm lược do Hoa Kỳ lãnh đạo, người Iraq tiếp tục bị thiếu điện. Ảnh của Wathiq Khuzaie/Getty Images qua aljazeera.

4,4 triệu người di dời trong nước

Cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq do Hoa Kỳ lãnh đạo kéo dài cho đến năm 2011 và dẫn đến nhiều làn sóng di cư quy mô lớn. Số lượng người di cư trong nước (IDP) đã tăng từ con số ‘không được đăng ký’ vào năm 2003 lên 2,6 triệu vào năm 2007.

Vào thời điểm Hoa Kỳ tuyên bố chấm dứt các hoạt động chiến đấu vào tháng 12 năm 2011, số lượng IDP của Iraq là 1,3 triệu.

Tuy nhiên, với sự trỗi dậy, thăng tiến và sụp đổ của ISIS từ năm 2013 đến năm 2019, số lượng IDP đã tăng trở lại, đạt mức cao nhất là 4,4 triệu vào năm 2015.

Tính đến năm 2022, có gần 1,2 triệu người phải di dời trong nước trên toàn quốc.

2,3 triệu người tị nạn

Ngoài những người di tản trong nước, hàng triệu người Iraq khác đã trở thành người tị nạn. Vào thời điểm cao điểm nhất vào năm 2007, hơn 2,3 triệu người Iraq đã rời khỏi đất nước và 80% đã kết thúc ở các nước láng giềng Syria và Jordan.

Trong số những người chạy trốn trong những năm sau cuộc xâm lược, có một nửa số bác sĩ đã đăng ký hành nghề của Iraq, theo hiệp hội y khoa Iraq.

Tính đến năm 2022, Liên Hợp Quốc đã đăng ký 345.305 người tị nạn Iraq sống chủ yếu ở Đức (44%), Jordan (10%) và Iran (10%). Infographic dưới đây phân tích nơi những người tị nạn Iraq chạy trốn sau cuộc xâm lược của Hoa Kỳ.

Số người tị nạn Iraq đạt đỉnh điểm là 2,3 triệu vào năm 2007. Syria và Jordan đã tiếp nhận hơn 80 % số người tị nạn từ năm 2006 đến năm 2011.

Bạo lực lan rộng

Việc loại bỏ Saddam Hussein đã tạo ra khoảng trống quyền lực – làm leo thang căng thẳng giáo phái và dẫn đến nội chiến.

“Có rất nhiều người khác nhau có súng, quyền lực và uy quyền đối với chúng tôi”, al-Khatib nói. “Vì vậy, thay vì một nhà độc tài trước đây, bây giờ chúng ta có hàng trăm”.

Anh nói: “Tôi nghĩ nó đã thay đổi, mọi thứ đã thay đổi. Tôi chỉ không thích những lựa chọn mà bây giờ, với tư cách là một người Iraq trẻ tuổi, tôi có thể đưa ra. Nếu các lựa chọn là giữa chiến tranh hoặc Saddam, thì tôi cũng không muốn”.

Một chiến binh quân đội Mahdi cầm lựu đạn phóng tên lửa, dân quân Shia, chiến đấu ở Sadr City, một quận của Baghdad, năm 2008. Ảnh: Kareem Raheem/Reuters qua aljazeera.

Theo dữ liệu do Uppsala tổng hợp, ít nhất 7.966 vụ xung đột đã được ghi nhận trên toàn quốc từ năm 2003 đến năm 2021. Đó là ít nhất một vụ xung đột mỗi ngày trong suốt 19 năm.

Hơn 60% (4.955 vụ) bạo lực chỉ xảy ra ở 3 tỉnh – Nineveh, Baghdad và Al-Anbar. Bản đồ dưới đây nêu rõ nơi xảy ra những xung đột bạo lực này.

Ít nhất 7.966 vụ xung đột đã được ghi nhận trên khắp Iraq từ năm 2003 đến năm 2021. Con số này tương đương với 1,15 vụ xung đột mỗi ngày trong hơn 19 năm.

Kinh tế bất ổn

Kể từ cuộc xâm lược Iraq, đất nước này đã phải chịu một thời kỳ lạm phát cao kéo dài. Vào thời kỳ đỉnh điểm năm 2006, tỷ lệ lạm phát tiêu dùng lên tới 53%, theo Quỹ tiền tệ quốc tế.

Bất chấp các mục tiêu của Hoa Kỳ nhằm duy trì sự ổn định kinh tế và xây dựng lại cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iraq sau cuộc xâm lược năm 2003, bạo lực kéo dài, tình trạng thiếu hàng hóa, đô la hóa và chính sách tiền tệ không ổn định đã góp phần gây ra lạm phát cao.

Lạm phát ở Iraq

Năm 2008, lạm phát đã được kiểm soát. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, chi phí sinh hoạt của Iraq một lần nữa tăng chóng mặt. Vào năm 2020, giá dầu giảm đã dẫn đến sự mất giá của đồng dinar của Iraq. Theo Ngân hàng thế giới, trong thập kỷ qua, doanh thu từ dầu mỏ chiếm hơn 99% kim ngạch xuất khẩu và 42% tổng sản phẩm quốc nội của Iraq.

Tháng 3 năm 2022, các cuộc biểu tình nổ ra ở miền nam Iraq, do giá cả hàng hóa tăng mạnh. Các quan chức đổ lỗi cho cuộc xâm lược Ukraine của Nga.

Một phụ nữ Iraq mang tấm bảng có nội dung: ‘Khi bạn nổi dậy vì lòng kiêu hãnh, bạn sẽ không dừng lại cho đến khi đạt được mục tiêu của mình’, trong một cuộc biểu tình phản đối giá lương thực tăng cao ở Nasiriya. Ảnh: Asaad Niazi/AFP qua aljazeera.

“Ít nhất ở chế độ trước, bất chấp chế độ độc tài, đó là một nhà nước đang hoạt động, có cơ sở hạ tầng, một nền kinh tế đang hoạt động bất chấp lệnh trừng phạt và bộ máy quan liêu trong chính phủ – thứ phải mất hàng thập kỷ để xây dựng”, al-Khatib nói. “Rõ ràng là các chính phủ thành lập sau năm 2003, họ đã không nhận ra điều đó”.

Ngày 11 tháng 12: Saad Hussein khuyết tật – cho biết anh bị thương do một quả bom Mỹ vào tháng 1 năm 2008. Ảnh của Mario Tama/Getty Images qua aljazeera.

“Đôi khi nhớ lại những chuyện từ năm 2003, và tôi nói, ‘Ồ, đó là lý do tại sao tôi rất căng thẳng. Đó là lý do tại sao tôi cảm thấy hơi chán nản’, al-Khatib nói. “Nó giống như sự kết hợp của tất cả mớ hỗn độn mà người Mỹ để lại trên đất nước tôi – đang theo tôi như cái bóng của cuộc chiến này”.

Theo Iraq Body Count, ít nhất 210.090 thường dân đã thiệt mạng trong bạo lực liên quan đến chiến tranh kể từ năm 2003. Số tử vong hàng năm cao nhất xảy ra vào năm 2006 khi khoảng 30.000 thường dân thiệt mạng.

Dự án Costs of War ước tính rằng hàng trăm nghìn người Iraq khác có thể đã chết vì những tác động dây chuyền của cuộc xung đột.

Theo Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, 4.431 binh sĩ đã thiệt mạng trong các ‘sự kiện hành động và phi thù địch’ và 31.994 người bị thương trong chiến đấu trong chiến tranh Iraq.

Di sản và giáo dục Iraq

Nhà thờ công giáo Al-Tahira Syriac, được xây dựng vào năm 1862 tại Mosul, đã bị phá hủy trong cuộc chiến với ISIS. Ảnh: Hawre Khalid/Getty Images qua aljazeera.

Chiến tranh cũng đã để lại những vết sẹo đối với di sản của đất nước.

Sau khi Baghdad thất thủ vào tháng 4 năm 2003, những kẻ cướp bóc đã đột nhập vào Bảo tàng quốc gia Iraq và đánh cắp 15.000 đồ vật, bao gồm cả những đồ tạo tác có niên đại hàng nghìn năm.

Ngày 13 tháng 4: Phó giám đốc bảo tàng quốc gia Iraq Mushin Hasan ôm đầu khi ngồi trên những hiện vật bị phá hủy 13 tháng 4 năm 2003 tại Bagdhad, Iraq. Bảo tàng bị cướp phá nghiêm trọng trong những ngày gần đây. Ảnh: Mario Tama/Getty Images qua aljazeera.

Eleanor Robson, giáo sư lịch sử Trung Đông cổ đại tại Đại học College London (UCL), nói với Al Jazeera: “Thiệt hại thực sự khủng khiếp và những thứ khó định lượng hơn rất nhiều là nạn cướp bóc từ bên ngoài bảo tàng đối với các địa điểm khảo cổ và di sản văn hóa. “Vì vậy, đó là những thứ vẫn còn trong lòng đất và chưa bao giờ được khai quật hay nghiên cứu. Không thể định lượng được”.

Nón đất sét của người Sumer này, có niên đại khoảng năm 2200 trước công nguyên, đã bị cảnh sát Anh cướp phá và tịch thu vào tháng 5 năm 2003. Ảnh: Bảo tàng Anh/AFP qua aljazeera.

Dưới thời ISIS, các địa điểm văn hóa và tôn giáo đã bị phá hủy thêm, bao gồm cả việc phá hủy thành phố Mosul và các di tích ở tỉnh Nineveh. Vào cuối tháng 5 năm 2016, 41 tòa nhà có ý nghĩa lịch sử được cho là đã bị phá hủy hoặc đổ nát ở Mosul, theo Rashid International, một mạng lưới các nhà khảo cổ học, chuyên gia di sản văn hóa và các chuyên gia bảo vệ và quảng bá di sản văn hóa của Iraq.

Hình 5 trẻ em đi ngang qua phần còn lại của Đại thánh đường Hồi giáo al-Nuri ở Mosul, Iraq. Được xây dựng vào năm 1172–1173, nhà thờ Hồi giáo đã bị nhóm ISIS phá hủy vào ngày 21 tháng 6 năm 2017.

Chính phủ Iraq cho biết ISIS đã phá hủy nhà thờ Hồi giáo al-Nuri, được xây dựng vào khoảng năm 1172, trong trận chiến giành Mosul vào tháng 6 năm 2017. Ảnh: Tom Peyre-Costa/Hội đồng người tị nạn Na Uy qua aljazeera.

Robson nói: “Di sản có cùng nguồn gốc với thừa kế, và nó khác với lịch sử. Di sản là một phần của con đường kết nối với chúng ta, mà chúng ta cảm thấy gắn bó cá nhân, cái mà chúng ta bắt nguồn từ đó. Đó là những gì chúng ta được thừa hưởng từ tổ tiên của mình. Và do đó, nó mang lại cho mọi người nói chung, dù họ ở đâu trên thế giới, cảm giác về bản sắc đó”.

“Hậu quả lâu dài hơn, cả một thế hệ đã ra đi, và không có ai dạy dỗ và khuyến khích thế hệ sau”, giáo sư nói.

Robson và các đồng nghiệp của cô điều hành mạng lưới Nahrein, có trụ sở tại UCL. Nó tập trung vào sự phát triển bền vững của lịch sử và di sản Trung Đông.

Robson giải thích: “Nhiệm vụ của chúng tôi là đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho các chuyên gia di sản Iraq để tiếng nói và ý kiến ​​của họ được lắng nghe”.

Giáo dục bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Tác động đối với giáo dục ở Iraq đã lan rộng. Trước chiến tranh, nền giáo dục của Iraq được cung cấp đầy đủ nguồn lực và cởi mở với phụ nữ. Tuy nhiên, cuộc xâm lược của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lĩnh vực này và hạn chế khả năng tiếp cận của nhiều bộ phận trong xã hội.

Một cuộc khảo sát do Bộ giáo dục Iraq thực hiện tại hơn 3.200 trường trung học trên cả nước cho thấy, từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2003, 80% trường học bị hư hại vừa phải hoặc nghiêm trọng.

Các tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất là Najaf (90% thiệt hại), Nineveh (88%) và Tamim (87%). Ít bị ảnh hưởng nhất là các tỉnh phía đông bắc Erbil và Sulaymaniyah. Không có dữ liệu cho Baghdad.

Việc lật đổ chính phủ Iraq năm 2003 đã khiến nhiều học giả rời khỏi đất nước. Nhiều người đã rời đi do các biện pháp trừng phạt được đưa ra vào những năm 1990, chiến tranh và quyền tự do ngôn luận bị đàn áp.

Robson nói: “Có một tác động ngay lập tức đến các đồng nghiệp của tôi”, Robson nói thêm rằng nhiều học giả đã thiệt mạng sau cuộc xâm lược.

“Đó chỉ là sự hỗn loạn, và họ bị ám sát hoặc bị giết trong những vụ tai nạn khủng khiếp. Tôi có thể nghĩ đến hai đồng nghiệp đã bỏ chạy trên đường”, cô nói.

Al-Khatib nói: “Mẹ tôi là một giáo viên và bà làm việc trong một trường học gần đó. Tại một thời điểm, al-Qaeda bắt đầu có nhiều quyền kiểm soát ở thành phố của chúng tôi. Một ngày nọ, mẹ tôi trở về nhà và bà nói: ‘Tôi đã được bảo rằng bây giờ tôi phải mặc niqab’.

Về hy vọng cho tương lai, al-Khatib nói rằng, anh muốn gia đình mình chỉ phải lo lắng về những điều bình thường.

“Tôi muốn, liệu em gái tôi có vào được trường đại học mà cô ấy mong muốn hay để bố tôi lo lắng rằng, ông ấy không đổi sang chiếc xe mà ông ấy thích hay mẹ tôi muốn chúng tôi nên có một kỳ nghỉ, hoặc anh trai tôi muốn đi đến một nơi khác”.

Scroll to Top